Bài này tính viết đã lâu nhưng không có thời gian để viết. Nay nhân lúc nằm dưỡng thương có một người bạn nhắn tin hỏi về phép đối trong thơ Đường Luật thì chợt nhớ lại còn một bài viết đang tính viết mà quên đi mất. Vội lấy máy tính ra, đốt một điếu thuốc và bắt đầu viết thôi...
vì tình cờ thấy có mấy THÁNH NHÂN (học trò ai tự hiểu) cứ chạy vòng vòng chặt chém người khác, còn ghê hơn nữa bảo là Thiên Sầu chẳng biết gì về thơ Đường Luật trong khi nhà Vọng Nguyệt Lâu cũng đã rất lâu rồi tập thể ở ẩn, chém gió trong nhóm với nhau thôi. Nào ta vào đề tài chính đi, chém gió cũng hơi lệch chủ đề rồi. Bài này viết theo một tài liệu trên mạng, một tiền bối đã viết rất lâu rồi nhưng thấy không hẹn mà gặp nên lấy về xem xét và chỉnh sửa cho hoàn chỉnh thôi.
"Trên các hội nhóm, diễn đàn về thơ trên Facebook, Google+ hay các trang web thì tôi thấy văn hóa chơi thơ Đường Luật có một vấn đề rất nghiêm trọng như thế nào ấy? Mọi người cứ ra sức chặt chém thơ nhau một cách nhiệt tình, nhiệt liệt cứ gọi là bất cần biết đến lý thuyết thi luật đang sử dụng có xuất xứ từ đâu? Sách nào? Có đúng hay là sai? Rất nghiên về cảm tính, tôi không thích anh thì cứ đâm ngay anh mà chém, việc còn lại không cần quan tâm......PHIỀN? Và người này chê thơ người kia một cách gay gắt mà gay gắt ở đây lại toàn những ngôn từ chẳng thơ tý nào, có người thì ưa dùng từ mạnh để chửi người khác ngu xuẩn, có người thì dùng thơ để trổ tài chửi..."
Và một trong những điểm thường thấy mà các “THẦY” hay "THÁNH" thơ Đường luật thường dụng để “triệt hạ” nhau là hai cặp Thực, Luận, chỉ vì Thi luật quy định hai cặp này phải đối, và đối thì khó hơn nên thường mắc lỗi. Nhưng mà các “THẦY” hay "THÁNH" càng đao to búa lớn chặt chém nhau thì càng thể hiện sự học lý thuyết siêu việt của mình. Tôi có một nhận xét là các môn đệ trường phái thơ Đường luật thường quên xem xét về cấu trúc ngữ pháp, quên về cú pháp thơ khác với cú pháp văn xuôi và nữa là không tận tường phép đối có những gì? Cứ hễ thấy thơ ngũ ngôn/thất ngôn bát cú là lao vào băm bổ chê bai. Điều đó chứng tỏ các “THẦY CHÊ” hay "THÁNH PHÁN" đã không biết rằng thể thơ Đường có hai loại thơ cổ thể và thơ thi luật. Chỉ có thơ thi luật mới đòi hỏi đối. Tuy nhiên đối trong thi luật của Trung Quốc cũng có hai kiểu đối là đối chữ và đối ý. Còn khi sang Ta thì Thi luật được biến tấu thêm nhiều kiểu chơi chữ, cũng như nhiều kiểu đối thơ khác, khiến cho dòng thơ gọi là Thi luật trở nên phong phú và thi vị vô cùng. Phép đối đa dạng, phóng khoáng chứ không nhất nhất chỉ có dạng đối biền ngẫu. Không chỉ có chỉnh đối, mà có cả khoan đối, tá đối, thậm chí có cả phiến đối, giao cổ đối…
Nay Sầu viết lại về đối chút xíu ( đụng tới thằng này nói tới mùa quýt năm sau cũng chưa hết...
) chủ yếu nội dung là trong sách ve chai được mua lại, 10k một cuốn dễ chơi dễ đốt.
A. Các thể loại câu đối
1. Câu tiểu đối :
- Câu tiểu đối trong văn nói: Có từ ba đến bốn chữ, vế xướng chỉ có thanh trắc hoặc thanh bằng và vế đối ngược lại, ví dụ:
Trời xanh thiên thanh (4 chữ đều thanh bằng)
Nước bạc trắng tuyết (4 chữ đều thanh trắc)
- Câu tiểu đối trong thơ: hay còn gọi là Cú trung đối:
+ Câu tiểu đối trong thơ Lục bát: Trong một câu thơ có hai ý nhỏ đối nhau. Ta thường gặp nhiều trong thơ lục bát, ví dụ:
Làn thu thuỷ nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
+ Tiểu đối trong thơ Thi luật:
Cướp của đánh người quân tệ nhỉ
Xương gà da cóc có đau không
(Nguyễn Khuyến)
2. Câu đối phú: Là một thể văn vần có cấu trúc phức tạp, bao gồm câu, vế ngắn, vế dài, lại có lối diễn đạt lai văn xuôi, nên có thể định nghĩa Phú là một dạng biến văn kết hợp giữa vần lai văn xuôi.
Ví dụ:
Ai nấy dại vô cùng, pháo pháo nêu nêu kinh những quỷ
Ta nay nhàn bất trị, chè chè rượu rượu sướng bằng tiên
(Nguyễn Khuyến)
Câu đối phú nhiều khi dài dằng dặc tới mấy dòng:
Hành niên qua nạo đến cùn xương, nào tiền nhà, nào tiền học, nào tiền thuế, nào tiền ăn, nghĩ đời sống lắm phen chớ phở.
Mùi tết mới tha hồ béo mỡ, này chén rượu, này chén chè, này chén anh, này chén chú, gặp ngày xuân thoả sức đá gà.
3. Câu đối thơ: Thường có hai dạng:
- Đối trong thơ Đường: Gồm có phép công đối và khoan đối (sẽ chi tiết ở phần sau).
- Đối trong thơ Lục bát: Hoặc là đối nguyên cả hai câu 6-8 này với hai câu 6-8 khác; hoặc là dụng câu tiểu đối để xây dựng hai vế đối nhau trong một câu:
Ví dụ đối nguyên hai câu 6-8:
Tướng chàng nho sĩ tốt tươi
Ước chi thầy mạ (mã) xe đôi cho chàng.
(Vế ra của các O phường vải Xứ Nghệ)
Lên voi, xuống ngựa, tốt chiều,
Chàng gan tướng sĩ, thiếp liều pháo xe.
(Vế đối của các Đồ Nghệ)
Tiểu đối:
Một mai ai chớ bỏ ai
Chỉ thêu nên gấm sắt mài nên kim
B. Các phép đối chính của thể loại câu đối nói chung:
1. Biền ngẫu: là cách kiến trúc câu theo cú thể song song, đặt thế nào cho các lời, các ý tương xứng.
2. Đối chữ: Hán đối với Hán, Nôm đối với Nôm, Việt đối với Việt, Hán Việt đối với Hán Việt;
3. Đối ngữ: danh từ đối danh từ, động từ đối với động từ, tính từ đối với tính từ, đơn thanh đối với đơn thanh, điệp thanh đối với điệp thanh, hiệp thanh đối với hiệp thanh…
4. Đối cú: Cấu tạo của hai vế đối giống nhau, cùng một kiểu loại, vế trên có những thành phần nào, thì vế dưới cũng có thành phần ấy.
5. Đối ý: Đối ý là đối về nội dung:
- Đối tương đồng hay đối bổ sung: Hoặc là hai vế cùng một ý nhằm tăng cường điều cần diễn đạt
Hiểu tùy thiên trượng nhập
Ộ nhạ ngự hương quy
(Sớm theo xe vua mà đến,
Chiều mang hương ngự trở về)
Sầm Tham – Kỷ ta tỉnh Đỗ thập di
- Đối tương phản: Hoặc ý trong hai vế trái ngược nhau về mục đích hay phạm trù diễn đạt
Bạch phát bi hoa lạc
Thanh vận tiện điểu phi
(Tóc bạc nên thương hoa rụng
Mây xanh phơi phới cánh chim bay)
(Sầm Tham – Kỷ ta tỉnh Đỗ thập di)
- Đối thừa tiếp: Hoặc giữa hai vế có mối lý luận nhân quả, so sánh nhượng bộ
Tức phòng viễn khách thùy đa sự
Tiện sáp sơ li khước thậm chân
(Người ta e dè khách xa, tuy lắm chuyện đấy
Nhưng bởi mình cắm rào thưa, họ tưởng cấm thật)
Đỗ Phủ - Hựu trình Ngô Lang
6. Đối nghĩa: Bao gồm nghĩa đen và nghĩa bóng.
- Nghĩa đen: Nội dung tổng thể phải luận bàn nhất quán về một vấn đề, ví dụ xuôi - ngược, khó - dễ, yêu – ghét, màu sắc, muông thú vv…
- Nghĩa bóng: là nghệ thuật sử dụng chữ, hoặc là một chữ có nhiều nghĩa, hoặc là nhiều chữ trong câu có cùng một nghĩa.
7. Âm tiết: Trắc bằng nghịch nhau ở chữ cuối của mỗi tiểu vế, và tiết tấu phải đồng nhất
8. Số lượng: Vế ra bao nhiêu chữ, vế đối cũng bấy nhiêu chữ. Phải cân xứng số lượng chữ đến trong từng ý nhỏ
C. Muôn dạng đối phong phú khác trong nền thơ ca Việt Nam:
1. Phép đối được triển khai trong thơ Đường luật ở Việt Nam:
Trên các diễn đàn thơ Đường luật Việt Nam hiện nay, chủ quan mà nhận xét thì cơ bản mới chỉ sử dụng tới phép đối biền ngẫu là chính, nhưng biền ngẫu cũng đang bị hiểu có phần sai lệch, máy móc. Từ chỗ bấu víu vào biền ngẫu để xét nét nhau, nên nhiều người đem chặt nhỏ câu thơ thành từng chữ, so đọ trên dưới để phán, mà quên mất yếu tố ngữ pháp? Ví dụ, từ còn có từ đơn, từ kép, từ ghép (*); quên cả xem xét về mặt cấu trúc câu xem vị trí của tự đang cáng đáng là gì, động từ, tính từ, hay chỉ là bổ ngữ? Bởi thế, không thiếu trường hợp chữ trong câu thơ sắp bày ra trước mắt, nhòm vào thì có vẻ sóng đôi (biền ngẫu) đấy, nhưng hồn vía của thơ thì chẳng thấy đâu; Ngược lại, người đưa được hồn vía vào thơ thì bị chê tơi tả rằng không chỉnh đối, cũng vì lối chặt chữ máy móc ?!
Thật ra, đó là do phần đọc lý thuyết mới đọc một mà chưa đọc hai. Không phải cứ chữ trên song song với chữ dưới cùng một loại tự là biền ngẫu? Cũng như câu đối thơ không chỉ có phép đối biền ngẫu, mà còn có nhiều phép đối khác. Trang 123 - Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm định nghĩa:
“Đối là đặt hai câu đi sóng đôi cho ý và chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau.
1.) Đối ý là tìm hai ý tưởng cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau
2.) Đối chữ thì vừa phải đối thanh tức là bằng đối với trắc, trắc đối với bằng; vừa phải đối loại của chữ nghĩa và phải đặt hai chữ cùng một tự-loại để đối với nhau (như cùng là hai chữ danh tư, hoặc động từ, vv...)”
Trang 199, mục đối ngẫu, Thi pháp thơ Đường – Nguyễn Thị Bích Hải, viết: “… Về hình thức thì có “công đối” (đối chỉnh) và “khoan đối” (đối không chỉnh)…”
Xem lại Thi pháp thơ Đường của Quách Tấn, thì tác giả này liệt kê và phân tích hàng loạt các phép đối, nào là lục đối, bát đối, 8 nội dung đối, 8 hình thức đối. Nhưng cuối cùng, Quách Tấn quy tụ lại 5 phép đối cơ bản gồm: chỉnh đối, tá đối, cú trung đối, tựu cú đối, lưu thủy đối.
Sau khi đọc hết các nội dung đối do Quách Tấn giới thiệu, tôi thấy các phép đối sau đây có phong cách riêng, khác với lối đối của văn biền ngẫu (Phần ví dụ chứng minh, sách không đề tác giả nên chưa biết của ai?):
1. Cú trung đối (tiểu đối):
Cô vân độc tiểu xuyên quang mộ
Vạn tỉnh thiên sơn hải khí thâm
(Mây côi chim lẻ ánh sáng xuyên qua dòng sông chiều
Muôn giếng nghìn non biển khí dày đặc)
2. Phiến đối (cách cú đối): Câu thứ nhất đối với câu thứ ba, câu thứ hai đối với câu thứ tư
Tiền niên gia thuỷ đông
Hồi thủ tịch dương lệ
Khứ niên gia thuỷ tây
Thấp diện xuân võ tuế
(Năm trước nhà ở phía đông sông
Quay đầu bóng chiều đẹp
Năm ngoái nhà ở phía tây sông
Ướt mặt mưa xuân dịu)
3. Lưu thuỷ đối: Ý trong hai vế đi liền một hơi như nước chảy
Lũ lương tâm thượng sự
Tương dữ mộng trung lân
(Hằng đem việc bên lòng
Bàn cùng người trong mộng)
4. Giao cổ đối (đối tréo cẳng ngỗng)
Địch lư tranh lợi thiệp
Lai vãng tiếp phong trào
(Thuyền bè tranh nhau trước
Qua lại tiếp gió sóng)
Địch lư đối với phong trào; lợi thiệp đối với lai vãng
5. Tá đối (đối tiếng, đối bóng):
Quyển liêm huỳnh diệp lạc
Khai hộ tử qui đề
(Cuốn rèm lá vàng rụng
Mở cửa tiếng cuốc kêu)
Tử (trong tử qui) đồng âm cùng tử là màu tím, nên mượn tiếng để đối với huỳnh là vàng (huỳnh điệp). Trong thơ Lục bát, bạn sẽ gặp tá đối nhiều hơn.
6. Tựu cú đối (đương đối): Đương là vừa cân xứng, chữ đồng loại này nhóm trong câu này đối lại với chữ đồng loại kia trong nhóm kia trong câu được cân xứng một cách vừa phải.
Bạch thủ đơn tâm y tử cấm
Nhất huy ngũ bộ tịnh tam biên
(Đầu bạc lòng son nương cung tía
Một lần hươi bút trong khoảng 5 bước dẹp yên được ba phương)
Lấy nhất, ngũ, tam đối với bạch, đơn, tử
7. Bất đối chi đối (trên mặt chữ thì không đối, nhưng ý vẫn đối nhau)
Bất tác tân phong tuý
Kỳ như quyện thể hà?
(Chẳng làm kẻ say trong cơn gió sớm
Thì làm sao cho ra tấm thân đã mỏi mệt)
Thiết nghĩ, để đánh giá một bài Thi luật, cần căn cứ hết cả 6 tiêu chí đề ra của Thi luật nói riêng và nghệ thuật làm thơ nói chung, chứ không riêng gì đối. Huống hồ chi, như nội dung tôi đã trình bày trên, thể hiện đối thơ cũng có ba bảy đường đối, chứ đâu chỉ có mỗi một dạng đối biền ngẫu?
Lời kết:
Sử chép rằng: Mùa thu tháng 8 năm 1282, thời vua Trần Thái Tôn, ở sông Nhị Hà (Phú Lương) có con cá sấu từ đâu đến. Có người họ Nguyễn quê ở phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương, làm tới chức hình bộ thượng thư trong triều bấy giờ được vua sai làm bài văn tế thả xuống sông, cá sấu tự bỏ đi. Vua cho việc ấy giống Hàn Dũ bên Tàu, nên đổi là họ Hàn. Từ đó người đời gọi ông là Hàn Thuyên. Sử cũng chép rằng, Hàn Thuyên có tài làm thơ phú Quốc ngữ. Nhiều người thấy hay bắt chước làm theo. Cho nên thơ Quốc âm thời bấy giờ cũng được gọi là thơ Hàn luật. Dương Quảng Hàm cho rằng Thi luật đúng là có nguồn gốc từ dòng thơ Đường Luật bên Tàu do Hàn Thuyên áp dụng vào nước ta. Nhưng đồng thời ông cũng thừa nhận dòng thơ Quốc âm của ta có nhiều sáng tạo nghệ thuật khiến cho đa dạng và phong phú về hình thức hơn nhiều so với Thi luật của Tàu.
Từ số sách cũ mua được ở hàng ve chai, tôi đã cố gắng tổng hợp lại các phép đối thơ như ở trên. Có thể còn nhiều thiếu sót, hoặc do trình độ hạn chế, tôi chưa nhận thức được hết mọi điều vi diệu trong nền sử thi Việt Nam. Cho dù thế nào, do dù còn nhiều thiếu sót, tôi cũng xin mạnh dạn chia sẻ bài viết này. Thiết nghĩ cha ông ta đã tạc ra một nền móng thi ca vừa kiên cố truyền thống, vừa mở mang văn đàn như thế. Hà cớ hậu duệ đời nay lại tự gò bó, chặt chém nhau hạn hẹp trong mỗi một phép đối chữ? Tại sao không tiếp nối truyền thống cha ông, triển khai cho hết các phép đối cho nó rộng đường thi ca. Quý vị cho rằng không thi vị, hay là khó quá không tiếp thu đặng kiến thức người xưa?
(Hết 1 gói thuốc + 2 ly cafe cho bài viết này - Vọng Thiên
)
Tham khảo thêm chủ đề tại đây:
https://vandan.vn/bai-viet/vai-nhan-dinh-ve-doi-cau-trong-tho-duong-luat.905/
"Trên các hội nhóm, diễn đàn về thơ trên Facebook, Google+ hay các trang web thì tôi thấy văn hóa chơi thơ Đường Luật có một vấn đề rất nghiêm trọng như thế nào ấy? Mọi người cứ ra sức chặt chém thơ nhau một cách nhiệt tình, nhiệt liệt cứ gọi là bất cần biết đến lý thuyết thi luật đang sử dụng có xuất xứ từ đâu? Sách nào? Có đúng hay là sai? Rất nghiên về cảm tính, tôi không thích anh thì cứ đâm ngay anh mà chém, việc còn lại không cần quan tâm......PHIỀN? Và người này chê thơ người kia một cách gay gắt mà gay gắt ở đây lại toàn những ngôn từ chẳng thơ tý nào, có người thì ưa dùng từ mạnh để chửi người khác ngu xuẩn, có người thì dùng thơ để trổ tài chửi..."
Và một trong những điểm thường thấy mà các “THẦY” hay "THÁNH" thơ Đường luật thường dụng để “triệt hạ” nhau là hai cặp Thực, Luận, chỉ vì Thi luật quy định hai cặp này phải đối, và đối thì khó hơn nên thường mắc lỗi. Nhưng mà các “THẦY” hay "THÁNH" càng đao to búa lớn chặt chém nhau thì càng thể hiện sự học lý thuyết siêu việt của mình. Tôi có một nhận xét là các môn đệ trường phái thơ Đường luật thường quên xem xét về cấu trúc ngữ pháp, quên về cú pháp thơ khác với cú pháp văn xuôi và nữa là không tận tường phép đối có những gì? Cứ hễ thấy thơ ngũ ngôn/thất ngôn bát cú là lao vào băm bổ chê bai. Điều đó chứng tỏ các “THẦY CHÊ” hay "THÁNH PHÁN" đã không biết rằng thể thơ Đường có hai loại thơ cổ thể và thơ thi luật. Chỉ có thơ thi luật mới đòi hỏi đối. Tuy nhiên đối trong thi luật của Trung Quốc cũng có hai kiểu đối là đối chữ và đối ý. Còn khi sang Ta thì Thi luật được biến tấu thêm nhiều kiểu chơi chữ, cũng như nhiều kiểu đối thơ khác, khiến cho dòng thơ gọi là Thi luật trở nên phong phú và thi vị vô cùng. Phép đối đa dạng, phóng khoáng chứ không nhất nhất chỉ có dạng đối biền ngẫu. Không chỉ có chỉnh đối, mà có cả khoan đối, tá đối, thậm chí có cả phiến đối, giao cổ đối…
Nay Sầu viết lại về đối chút xíu ( đụng tới thằng này nói tới mùa quýt năm sau cũng chưa hết...

A. Các thể loại câu đối
1. Câu tiểu đối :
- Câu tiểu đối trong văn nói: Có từ ba đến bốn chữ, vế xướng chỉ có thanh trắc hoặc thanh bằng và vế đối ngược lại, ví dụ:
Trời xanh thiên thanh (4 chữ đều thanh bằng)
Nước bạc trắng tuyết (4 chữ đều thanh trắc)
- Câu tiểu đối trong thơ: hay còn gọi là Cú trung đối:
+ Câu tiểu đối trong thơ Lục bát: Trong một câu thơ có hai ý nhỏ đối nhau. Ta thường gặp nhiều trong thơ lục bát, ví dụ:
Làn thu thuỷ nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
+ Tiểu đối trong thơ Thi luật:
Cướp của đánh người quân tệ nhỉ
Xương gà da cóc có đau không
(Nguyễn Khuyến)
2. Câu đối phú: Là một thể văn vần có cấu trúc phức tạp, bao gồm câu, vế ngắn, vế dài, lại có lối diễn đạt lai văn xuôi, nên có thể định nghĩa Phú là một dạng biến văn kết hợp giữa vần lai văn xuôi.
Ví dụ:
Ai nấy dại vô cùng, pháo pháo nêu nêu kinh những quỷ
Ta nay nhàn bất trị, chè chè rượu rượu sướng bằng tiên
(Nguyễn Khuyến)
Câu đối phú nhiều khi dài dằng dặc tới mấy dòng:
Hành niên qua nạo đến cùn xương, nào tiền nhà, nào tiền học, nào tiền thuế, nào tiền ăn, nghĩ đời sống lắm phen chớ phở.
Mùi tết mới tha hồ béo mỡ, này chén rượu, này chén chè, này chén anh, này chén chú, gặp ngày xuân thoả sức đá gà.
3. Câu đối thơ: Thường có hai dạng:
- Đối trong thơ Đường: Gồm có phép công đối và khoan đối (sẽ chi tiết ở phần sau).
- Đối trong thơ Lục bát: Hoặc là đối nguyên cả hai câu 6-8 này với hai câu 6-8 khác; hoặc là dụng câu tiểu đối để xây dựng hai vế đối nhau trong một câu:
Ví dụ đối nguyên hai câu 6-8:
Tướng chàng nho sĩ tốt tươi
Ước chi thầy mạ (mã) xe đôi cho chàng.
(Vế ra của các O phường vải Xứ Nghệ)
Lên voi, xuống ngựa, tốt chiều,
Chàng gan tướng sĩ, thiếp liều pháo xe.
(Vế đối của các Đồ Nghệ)
Tiểu đối:
Một mai ai chớ bỏ ai
Chỉ thêu nên gấm sắt mài nên kim
B. Các phép đối chính của thể loại câu đối nói chung:
1. Biền ngẫu: là cách kiến trúc câu theo cú thể song song, đặt thế nào cho các lời, các ý tương xứng.
2. Đối chữ: Hán đối với Hán, Nôm đối với Nôm, Việt đối với Việt, Hán Việt đối với Hán Việt;
3. Đối ngữ: danh từ đối danh từ, động từ đối với động từ, tính từ đối với tính từ, đơn thanh đối với đơn thanh, điệp thanh đối với điệp thanh, hiệp thanh đối với hiệp thanh…
4. Đối cú: Cấu tạo của hai vế đối giống nhau, cùng một kiểu loại, vế trên có những thành phần nào, thì vế dưới cũng có thành phần ấy.
5. Đối ý: Đối ý là đối về nội dung:
- Đối tương đồng hay đối bổ sung: Hoặc là hai vế cùng một ý nhằm tăng cường điều cần diễn đạt
Hiểu tùy thiên trượng nhập
Ộ nhạ ngự hương quy
(Sớm theo xe vua mà đến,
Chiều mang hương ngự trở về)
Sầm Tham – Kỷ ta tỉnh Đỗ thập di
- Đối tương phản: Hoặc ý trong hai vế trái ngược nhau về mục đích hay phạm trù diễn đạt
Bạch phát bi hoa lạc
Thanh vận tiện điểu phi
(Tóc bạc nên thương hoa rụng
Mây xanh phơi phới cánh chim bay)
(Sầm Tham – Kỷ ta tỉnh Đỗ thập di)
- Đối thừa tiếp: Hoặc giữa hai vế có mối lý luận nhân quả, so sánh nhượng bộ
Tức phòng viễn khách thùy đa sự
Tiện sáp sơ li khước thậm chân
(Người ta e dè khách xa, tuy lắm chuyện đấy
Nhưng bởi mình cắm rào thưa, họ tưởng cấm thật)
Đỗ Phủ - Hựu trình Ngô Lang
6. Đối nghĩa: Bao gồm nghĩa đen và nghĩa bóng.
- Nghĩa đen: Nội dung tổng thể phải luận bàn nhất quán về một vấn đề, ví dụ xuôi - ngược, khó - dễ, yêu – ghét, màu sắc, muông thú vv…
- Nghĩa bóng: là nghệ thuật sử dụng chữ, hoặc là một chữ có nhiều nghĩa, hoặc là nhiều chữ trong câu có cùng một nghĩa.
7. Âm tiết: Trắc bằng nghịch nhau ở chữ cuối của mỗi tiểu vế, và tiết tấu phải đồng nhất
8. Số lượng: Vế ra bao nhiêu chữ, vế đối cũng bấy nhiêu chữ. Phải cân xứng số lượng chữ đến trong từng ý nhỏ
C. Muôn dạng đối phong phú khác trong nền thơ ca Việt Nam:
1. Phép đối được triển khai trong thơ Đường luật ở Việt Nam:
Trên các diễn đàn thơ Đường luật Việt Nam hiện nay, chủ quan mà nhận xét thì cơ bản mới chỉ sử dụng tới phép đối biền ngẫu là chính, nhưng biền ngẫu cũng đang bị hiểu có phần sai lệch, máy móc. Từ chỗ bấu víu vào biền ngẫu để xét nét nhau, nên nhiều người đem chặt nhỏ câu thơ thành từng chữ, so đọ trên dưới để phán, mà quên mất yếu tố ngữ pháp? Ví dụ, từ còn có từ đơn, từ kép, từ ghép (*); quên cả xem xét về mặt cấu trúc câu xem vị trí của tự đang cáng đáng là gì, động từ, tính từ, hay chỉ là bổ ngữ? Bởi thế, không thiếu trường hợp chữ trong câu thơ sắp bày ra trước mắt, nhòm vào thì có vẻ sóng đôi (biền ngẫu) đấy, nhưng hồn vía của thơ thì chẳng thấy đâu; Ngược lại, người đưa được hồn vía vào thơ thì bị chê tơi tả rằng không chỉnh đối, cũng vì lối chặt chữ máy móc ?!
Thật ra, đó là do phần đọc lý thuyết mới đọc một mà chưa đọc hai. Không phải cứ chữ trên song song với chữ dưới cùng một loại tự là biền ngẫu? Cũng như câu đối thơ không chỉ có phép đối biền ngẫu, mà còn có nhiều phép đối khác. Trang 123 - Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm định nghĩa:
“Đối là đặt hai câu đi sóng đôi cho ý và chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau.
1.) Đối ý là tìm hai ý tưởng cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau
2.) Đối chữ thì vừa phải đối thanh tức là bằng đối với trắc, trắc đối với bằng; vừa phải đối loại của chữ nghĩa và phải đặt hai chữ cùng một tự-loại để đối với nhau (như cùng là hai chữ danh tư, hoặc động từ, vv...)”
Trang 199, mục đối ngẫu, Thi pháp thơ Đường – Nguyễn Thị Bích Hải, viết: “… Về hình thức thì có “công đối” (đối chỉnh) và “khoan đối” (đối không chỉnh)…”
Xem lại Thi pháp thơ Đường của Quách Tấn, thì tác giả này liệt kê và phân tích hàng loạt các phép đối, nào là lục đối, bát đối, 8 nội dung đối, 8 hình thức đối. Nhưng cuối cùng, Quách Tấn quy tụ lại 5 phép đối cơ bản gồm: chỉnh đối, tá đối, cú trung đối, tựu cú đối, lưu thủy đối.
Sau khi đọc hết các nội dung đối do Quách Tấn giới thiệu, tôi thấy các phép đối sau đây có phong cách riêng, khác với lối đối của văn biền ngẫu (Phần ví dụ chứng minh, sách không đề tác giả nên chưa biết của ai?):
1. Cú trung đối (tiểu đối):
Cô vân độc tiểu xuyên quang mộ
Vạn tỉnh thiên sơn hải khí thâm
(Mây côi chim lẻ ánh sáng xuyên qua dòng sông chiều
Muôn giếng nghìn non biển khí dày đặc)
2. Phiến đối (cách cú đối): Câu thứ nhất đối với câu thứ ba, câu thứ hai đối với câu thứ tư
Tiền niên gia thuỷ đông
Hồi thủ tịch dương lệ
Khứ niên gia thuỷ tây
Thấp diện xuân võ tuế
(Năm trước nhà ở phía đông sông
Quay đầu bóng chiều đẹp
Năm ngoái nhà ở phía tây sông
Ướt mặt mưa xuân dịu)
3. Lưu thuỷ đối: Ý trong hai vế đi liền một hơi như nước chảy
Lũ lương tâm thượng sự
Tương dữ mộng trung lân
(Hằng đem việc bên lòng
Bàn cùng người trong mộng)
4. Giao cổ đối (đối tréo cẳng ngỗng)
Địch lư tranh lợi thiệp
Lai vãng tiếp phong trào
(Thuyền bè tranh nhau trước
Qua lại tiếp gió sóng)
Địch lư đối với phong trào; lợi thiệp đối với lai vãng
5. Tá đối (đối tiếng, đối bóng):
Quyển liêm huỳnh diệp lạc
Khai hộ tử qui đề
(Cuốn rèm lá vàng rụng
Mở cửa tiếng cuốc kêu)
Tử (trong tử qui) đồng âm cùng tử là màu tím, nên mượn tiếng để đối với huỳnh là vàng (huỳnh điệp). Trong thơ Lục bát, bạn sẽ gặp tá đối nhiều hơn.
6. Tựu cú đối (đương đối): Đương là vừa cân xứng, chữ đồng loại này nhóm trong câu này đối lại với chữ đồng loại kia trong nhóm kia trong câu được cân xứng một cách vừa phải.
Bạch thủ đơn tâm y tử cấm
Nhất huy ngũ bộ tịnh tam biên
(Đầu bạc lòng son nương cung tía
Một lần hươi bút trong khoảng 5 bước dẹp yên được ba phương)
Lấy nhất, ngũ, tam đối với bạch, đơn, tử
7. Bất đối chi đối (trên mặt chữ thì không đối, nhưng ý vẫn đối nhau)
Bất tác tân phong tuý
Kỳ như quyện thể hà?
(Chẳng làm kẻ say trong cơn gió sớm
Thì làm sao cho ra tấm thân đã mỏi mệt)
Thiết nghĩ, để đánh giá một bài Thi luật, cần căn cứ hết cả 6 tiêu chí đề ra của Thi luật nói riêng và nghệ thuật làm thơ nói chung, chứ không riêng gì đối. Huống hồ chi, như nội dung tôi đã trình bày trên, thể hiện đối thơ cũng có ba bảy đường đối, chứ đâu chỉ có mỗi một dạng đối biền ngẫu?
Lời kết:
Sử chép rằng: Mùa thu tháng 8 năm 1282, thời vua Trần Thái Tôn, ở sông Nhị Hà (Phú Lương) có con cá sấu từ đâu đến. Có người họ Nguyễn quê ở phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương, làm tới chức hình bộ thượng thư trong triều bấy giờ được vua sai làm bài văn tế thả xuống sông, cá sấu tự bỏ đi. Vua cho việc ấy giống Hàn Dũ bên Tàu, nên đổi là họ Hàn. Từ đó người đời gọi ông là Hàn Thuyên. Sử cũng chép rằng, Hàn Thuyên có tài làm thơ phú Quốc ngữ. Nhiều người thấy hay bắt chước làm theo. Cho nên thơ Quốc âm thời bấy giờ cũng được gọi là thơ Hàn luật. Dương Quảng Hàm cho rằng Thi luật đúng là có nguồn gốc từ dòng thơ Đường Luật bên Tàu do Hàn Thuyên áp dụng vào nước ta. Nhưng đồng thời ông cũng thừa nhận dòng thơ Quốc âm của ta có nhiều sáng tạo nghệ thuật khiến cho đa dạng và phong phú về hình thức hơn nhiều so với Thi luật của Tàu.
Từ số sách cũ mua được ở hàng ve chai, tôi đã cố gắng tổng hợp lại các phép đối thơ như ở trên. Có thể còn nhiều thiếu sót, hoặc do trình độ hạn chế, tôi chưa nhận thức được hết mọi điều vi diệu trong nền sử thi Việt Nam. Cho dù thế nào, do dù còn nhiều thiếu sót, tôi cũng xin mạnh dạn chia sẻ bài viết này. Thiết nghĩ cha ông ta đã tạc ra một nền móng thi ca vừa kiên cố truyền thống, vừa mở mang văn đàn như thế. Hà cớ hậu duệ đời nay lại tự gò bó, chặt chém nhau hạn hẹp trong mỗi một phép đối chữ? Tại sao không tiếp nối truyền thống cha ông, triển khai cho hết các phép đối cho nó rộng đường thi ca. Quý vị cho rằng không thi vị, hay là khó quá không tiếp thu đặng kiến thức người xưa?
(Hết 1 gói thuốc + 2 ly cafe cho bài viết này - Vọng Thiên
Tham khảo thêm chủ đề tại đây:
https://vandan.vn/bai-viet/vai-nhan-dinh-ve-doi-cau-trong-tho-duong-luat.905/