Chiêu Khuất Đình
Nguyên tác: Uông Tuân
招屈亭
汪遵
三閭溺處殺懷王
感得荊人盡縞裳
招屈亭邊兩重恨
遠天秋色暮蒼蒼
Chiêu Khuất Đình
Uông Tuân
Tam lư nịch xứ sát Hoài vương
Cảm đắc Kinh nhân tận cảo thường
Chiêu Khuát đình biên lưỡng trùng hận
Viễn thiên thu sắc mộ thương thương
Chú thích: 1/ Khuất, tức Khuất Nguyên, khoảng 343-287 TCN, quê quán Quy Hương, huyện Hưng Sơn, tỉnh Hà Bắc, người nước Sở cuối thời Chiến Quốc. Ông là người giỏi thơ văn, có chí khí và nhiệt tình yêu nước. Ban đầu ông giữ chức Tả đồ, sau đổi sang làm Tam lư đại phu. Trước hiểm họa nước Sở sắp bị nước Tần thôn tính, ông chủ trương liên kết với Tề chống Tần nhưng bị bọn thủ cựu trong triều bài bác còn đày ông xuống vùng Giang nam…Đi tới sông Mịch La thuộc huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, vì quá bi phẫn, ông nhảy xuống sông tự trầm. 2/ Chiêu Khuất đình, là ngôi đình dân địa phương lập nên để chiêu hồn họ Khuất về thờ, ngay nơi ông mất. 3/ Kinh, tức huyện Kinh môn, thuộc nước Sở cũ,
--Dịch nghĩa: --
Đình Chiêu Hồn Họ Khuất
Chỗ quan Tam lư tự vẫn, gần chổ quân Tần giết chết vua Sở Hoài vương.
Người dân đất Kinh cảm thương đã mặc áo tang [làm lễ chiêu hồn].
[Hôm nay] bên Chiêu Khuất đình, [thi nhân] cảm hai nỗi buồn [cho họ Khuất và cho vua Sở].
Nhìn về trời xa, chỉ thấy vẻ thu xanh xanh bao la.
--Bản dịch của Nguyễn Minh--
Chỗ vua chết Tam lư tự vẫn
Dân đất Kinh kính cẩn chiêu hồn
Bên đình hai thứ nỗi buồn
Xanh xanh thu sắc hoàng hôn xuống dần
--Bản dịch của Nguyễn phước Hậu--
Tam lư chết chỗ giết Hoài vương
Mặc áo tang dân Kinh cảm thương.
Miếu Khuất đình thờ hai nỗi hận
Chiều thu trời thẫm cũng xanh buồn.
Nguyên tác: Uông Tuân
招屈亭
汪遵
三閭溺處殺懷王
感得荊人盡縞裳
招屈亭邊兩重恨
遠天秋色暮蒼蒼
Chiêu Khuất Đình
Uông Tuân
Tam lư nịch xứ sát Hoài vương
Cảm đắc Kinh nhân tận cảo thường
Chiêu Khuát đình biên lưỡng trùng hận
Viễn thiên thu sắc mộ thương thương
Chú thích: 1/ Khuất, tức Khuất Nguyên, khoảng 343-287 TCN, quê quán Quy Hương, huyện Hưng Sơn, tỉnh Hà Bắc, người nước Sở cuối thời Chiến Quốc. Ông là người giỏi thơ văn, có chí khí và nhiệt tình yêu nước. Ban đầu ông giữ chức Tả đồ, sau đổi sang làm Tam lư đại phu. Trước hiểm họa nước Sở sắp bị nước Tần thôn tính, ông chủ trương liên kết với Tề chống Tần nhưng bị bọn thủ cựu trong triều bài bác còn đày ông xuống vùng Giang nam…Đi tới sông Mịch La thuộc huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, vì quá bi phẫn, ông nhảy xuống sông tự trầm. 2/ Chiêu Khuất đình, là ngôi đình dân địa phương lập nên để chiêu hồn họ Khuất về thờ, ngay nơi ông mất. 3/ Kinh, tức huyện Kinh môn, thuộc nước Sở cũ,
--Dịch nghĩa: --
Đình Chiêu Hồn Họ Khuất
Chỗ quan Tam lư tự vẫn, gần chổ quân Tần giết chết vua Sở Hoài vương.
Người dân đất Kinh cảm thương đã mặc áo tang [làm lễ chiêu hồn].
[Hôm nay] bên Chiêu Khuất đình, [thi nhân] cảm hai nỗi buồn [cho họ Khuất và cho vua Sở].
Nhìn về trời xa, chỉ thấy vẻ thu xanh xanh bao la.
--Bản dịch của Nguyễn Minh--
Chỗ vua chết Tam lư tự vẫn
Dân đất Kinh kính cẩn chiêu hồn
Bên đình hai thứ nỗi buồn
Xanh xanh thu sắc hoàng hôn xuống dần
--Bản dịch của Nguyễn phước Hậu--
Tam lư chết chỗ giết Hoài vương
Mặc áo tang dân Kinh cảm thương.
Miếu Khuất đình thờ hai nỗi hận
Chiều thu trời thẫm cũng xanh buồn.