
Bình thường có lẽ ai trong chúng ta cũng từng nghe qua những khái niệm như ...tam tòng, tứ đức, ngũ thường ...v...v... vì vậy, hôm nay UH sẽ bắt đầu bài mới bằng 1 trong những khái niệm đó. Vừa để các bạn biết cách viết của nó qua chữ Hán, vừa để các bạn có thể hiểu thêm về ý nghĩa của nó.
1/ Từ Mới:
德 Đức : là phẩm chất tốt đẹp
功 Công : là công phu, tài nghệ
容 Dung : là vẻ mặt, diện mạo
言 Ngôn : là lời nói
行 Hạnh : là nết hạnh
"Công-Dung-Ngôn-Hạnh" là cách nói của người Việt chúng ta thường dùng. Người TQ thì hơi khác chút, Tứ Đức đối với họ là ..."Đức-Ngôn-Dung-Công".
Đức là Đức Hạnh
Ngôn là Ngôn Từ
Dung là Dung Mạo
Công là Kỹ Nghệ
Khi nói ...Đức-Ngôn-Dung-Công, họ đã sắp xếp theo trình tự từ cao xuống thấp như kiểu ...nhất điểu, nhị ngư, tam xà, tứ tượng. Do vậy, mà trình tự hoàn toàn ngược lại với trình tự của cách nói của người Việt ...Công-Dung-Ngôn-Hạnh(Đức).
Tứ Đức nguyên thủy là 4 tiêu chuẩn dành cho nữ nhân trong cung đình. Lâu dần được truyền bá ra ngoài làm khuôn mẫu cho con gái nhà quan noi theo. Và cuối cùng thì vì người ta lấy Tứ Đức làm cơ sở để ...chọn vợ, nên đã được XH hóa mà trở nên áp dụng cho tất cả phụ nữ trong XH.
Cũng vì vậy mà ý nghĩa của Tứ Đức dùng cho phụ nữ ngày nay hơi khác với nguyên thủy.
Theo nguyên thủy thì Tứ Đức có nghĩa như sau:
Đức - Đức Hạnh: là nói đến sự giữ gìn trinh tiết. Vì vậy, người có (giữ gìn được) đức hạnh thường được vua ban tặng danh hiệu là "Tiết Hạnh Khả Phong).
Ngôn - Ngôn Từ: là biết dùng lời lẽ hợp cách sao cho quý phái, sang trọng, đúng với vai trò của một cung nhân. Ngày xưa, phụ nữ không được học hành gì cả, duy chỉ có nữ nhân trong cung thì được đặc cách có thầy dạy riêng. Vì thế khi mở miệng ra nói chuyện là người ta có thể biết được sang, hèn. Vì vậy mà có câu:
Người thanh tiếng nói cũng thanh
Chuông kêu, khẽ đánh bên thành cũng kêu.
Hay,
Chim khôn tiếng hót rảnh rang
Người khôn ăn nói nhẹ nhàng dễ nghe.
Dung - Dung Mạo: là người trong cung thì tất nhiên phải biết trang điểm và ăn mặc cho phù hợp. Cử chỉ phải cho đoan trang, thùy mị, dịu dàng, khả ái. Không thể muốn sao cũng được như thường dân. Và như thế thì người ta mới có thể ...làm hay tu sửa theo được. Nếu hiểu Dung là sắc đẹp thì cha mẹ sinh sao để vậy, làm sao mà có thể thay đổi cho được chứ, phải không các bạn?
Công - Kỹ Nghệ: là tài nghệ như cầm, kỳ, thi, họa, thêu thùa ..v..v...Hoàn toàn không có phần ...nữ công gia chánh như bếp núc, dọn dẹp nhà cửa ..v..v... đơn giản là vì họ là ...cung nhân, nên không cần phải làm những việc đó.
*Tứ Đức theo ý nghĩa thông thường ngày nay:
Công: là chăm làm việc nhà, thêu may, nấu nướng các món ăn, sắp đặt nhà cửa khang trang, nuôi dạy con cái.
Dung: là chăm sóc vẻ mặt cho tươi tắn dễ thương, tướng đi dịu dàng, cử chỉ từ tốn đoan trang, thân thể sạch sẽ, quần áo tươm tất gọn gàng.
Ngôn: là lời nói thành thật, ngay thẳng, dịu ngọt, gây được tình cảm tốt đẹp trong mọi người, tránh lời thị phi, đâm thọc, mách lẽo, lợi mình hại người.
Hạnh: là tánh nết hiền lành, hòa nhã, khiêm cung, kính trên nhường dưới, khoan dung, độ lượng.
* Tứ Đức trong sách dạy làm người:
Sách Ích Trí dạy về Phụ đức (đức hạnh của đàn bà con gái), viết rằng:
"Người phụ nữ có bốn đức đáng khen: một là Hạnh, hai là Dung, ba là Ngôn, bốn là Công.
Hạnh, bất tất phải tài trí thông minh; Dung bất tất phải đẹp đẽ; Ngôn bất tất phải miệng lưỡi lanh lẹ; Công bất tất phải khéo léo hơn người.
Trinh, thục, liêm, tiết, giữ phận chỉnh tề, đi đứng đoan trang, động tĩnh đàng hoàng, ấy là Phụ Hạnh vậy.
Rửa ráy sạch sẽ, áo quần tinh khiết, tắm gội kịp lúc, ấy là Phụ Dung vậy.
Lựa lời mà nói, chẳng nói lời quấy, đúng lúc mới nói khiến người nghe không chán, ấy là Phụ Ngôn vậy.
Siêng năng may vá, chớ thích trà thơm rượu ngọt, biết nhịn miệng đãi khách, ấy là Phụ Công vậy.
Ấy là bốn đức lớn của người phụ nữ, nương theo đó mà làm, ấy là tiết hạnh của đàn bà vậy."
* Tứ Đức trong tác phẩm "Nữ Trung Tùng Phận" của Bà Đoàn Thị Điểm:
1. CÔNG:
Gặp cơn rảnh nhà lan vắng khách,
Công chỉ kim đèn sách học hay.
Trăm nghề dù chẳng đủ tài,
Dệt văn Tô Huệ gỡ đày chinh phu.
2. DUNG:
Phàm phận gái đứng hàng khuê các,
Phải trau tria tướng hạc hình mai.
Chín tầng cửa đóng then gài,
Ra ngoài nghiêm nghị, trong bày đoan trang.
3. NGÔN:
Đối với khách đồng bàn đồng tuổi,
Nhớ cho hay lời nói giọng cười.
Ngôn từ ngọt dịu thanh tươi,
Tiếng tiêu khải phụng phục người mới ngoan.
4. HẠNH:
Sửa từ nết ngày thâu tập tánh,
Trăm hạnh hay bởi tránh điều thô.
Xấu xa rách rưới, lõa lồ,
Đoan nghiêm tánh đức cũng cho gái lành.
UH sưu tầm