Trú Xương Giang
Nguyên tác: Lê Thánh Tông
住昌江
黎聖宗
半山残照影初初
两岸煙深雨不如
仡仡燈前十年讀
眼窥未遍聖贒書
Trú Xương giang
Lê Thánh Tông
Bán sơn tàn chiếu ảnh sơ sơ,
Lưỡng ngạn yêu thâm vũ bất như.
Ngật ngật đăng tiền thập niên độc,
Nhãn khuy vị biến thánh hiền thư.
Bản dịch của Phụng Hà
Nghỉ ở Xương Giang (1)
Nửa núi nắng tàn bóng nhạt thưa,
Hai bờ khói rậm mù hơn mưa.
Mười năm cần cù cùng đèn sách,
Mấy pho thánh hiền đọc hết chưa?
Bản dịch của Anh Nguyên
Nghỉ ở thành Xương-Giang
Nắng tàn, nửa núi tối mờ,
Mịt mù, khói phủ hai bờ hơn mưa.
Mười năm đèn sách có thừa,
Đọc kinh sách Thánh Hiền chưa hết nào.
(1) Xương Giang (tên thành thời Lê) nay thuộc tỉnh Bắc Giang
Tiểu sử tác giả
Lê Thánh Tông 黎聖宗 (Nhâm Tuất 1442 – Đinh Tỵ 1497), tên thực là Lê Tư Thành 黎思誠, còn có tên khác là Lê Hạo 黎灝, là vị vua thứ 5 thời Lê sơ; ông là con thứ của vua Lê Thái Tông và bà tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao. Ông làm vua từ năm 1460 đến năm 1497 với hai niên hiệu: Quang Thuận (1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497). Là một ông vua chuộng văn, trọng võ, trong thời gian trị vì, ông đã đưa ra nhiều cải cách về quân sự, hành chính, kinh tế, giáo dục và luật pháp. Ông cũng đã mở mang bờ cõi nước ta về phía nam... làm cho xã hội Đại Việt thời đó được thịnh vượng, tập quyền trung ương được vững vàng.
Ông tự xưng là Thiên Nam động chủ 天南洞主, Đạo Am chủ nhân 道庵主人, lập ra Tao đàn nhị thập bát tú (28 ngôi sao trên đàn thơ văn), tự xưng là Tao đàn đô nguyên soái.
Sau khi mất, có miếu hiệu là Thánh tông Thuần hoàng đế.
--Các tác phẩm chính của vua Lê Thánh Tông:--
- Thiên Nam dư hạ tập
- Xuân vân thi tập
- Lê Thánh Tông thi tập
- Hồng Đức quốc âm thi tập (thơ chữ Nôm)
- Quỳnh uyển cửu ca
- Minh lương cẩm tú
- Hồng Đức thiện chính, v...v...
Sách Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn đã sưu tập được nhiều thơ của Lê Thánh Tông.
Nguyên tác: Lê Thánh Tông
住昌江
黎聖宗
半山残照影初初
两岸煙深雨不如
仡仡燈前十年讀
眼窥未遍聖贒書
Trú Xương giang
Lê Thánh Tông
Bán sơn tàn chiếu ảnh sơ sơ,
Lưỡng ngạn yêu thâm vũ bất như.
Ngật ngật đăng tiền thập niên độc,
Nhãn khuy vị biến thánh hiền thư.
Bản dịch của Phụng Hà
Nghỉ ở Xương Giang (1)
Nửa núi nắng tàn bóng nhạt thưa,
Hai bờ khói rậm mù hơn mưa.
Mười năm cần cù cùng đèn sách,
Mấy pho thánh hiền đọc hết chưa?
Bản dịch của Anh Nguyên
Nghỉ ở thành Xương-Giang
Nắng tàn, nửa núi tối mờ,
Mịt mù, khói phủ hai bờ hơn mưa.
Mười năm đèn sách có thừa,
Đọc kinh sách Thánh Hiền chưa hết nào.
(1) Xương Giang (tên thành thời Lê) nay thuộc tỉnh Bắc Giang
Tiểu sử tác giả
Lê Thánh Tông 黎聖宗 (Nhâm Tuất 1442 – Đinh Tỵ 1497), tên thực là Lê Tư Thành 黎思誠, còn có tên khác là Lê Hạo 黎灝, là vị vua thứ 5 thời Lê sơ; ông là con thứ của vua Lê Thái Tông và bà tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao. Ông làm vua từ năm 1460 đến năm 1497 với hai niên hiệu: Quang Thuận (1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497). Là một ông vua chuộng văn, trọng võ, trong thời gian trị vì, ông đã đưa ra nhiều cải cách về quân sự, hành chính, kinh tế, giáo dục và luật pháp. Ông cũng đã mở mang bờ cõi nước ta về phía nam... làm cho xã hội Đại Việt thời đó được thịnh vượng, tập quyền trung ương được vững vàng.
Ông tự xưng là Thiên Nam động chủ 天南洞主, Đạo Am chủ nhân 道庵主人, lập ra Tao đàn nhị thập bát tú (28 ngôi sao trên đàn thơ văn), tự xưng là Tao đàn đô nguyên soái.
Sau khi mất, có miếu hiệu là Thánh tông Thuần hoàng đế.
--Các tác phẩm chính của vua Lê Thánh Tông:--
- Thiên Nam dư hạ tập
- Xuân vân thi tập
- Lê Thánh Tông thi tập
- Hồng Đức quốc âm thi tập (thơ chữ Nôm)
- Quỳnh uyển cửu ca
- Minh lương cẩm tú
- Hồng Đức thiện chính, v...v...
Sách Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn đã sưu tập được nhiều thơ của Lê Thánh Tông.