• Kể từ khi các bạn đọc được Thông báo này. Tất cả Khách truy cập trên Văn Đàn chỉ có thể xem bài viết và không thể gửi được góp ý hay ý kiến cá nhân. Vui lòng bạn hãy Đăng Ký để trở thành một thành viên của Văn Đàn, các bạn mới có đầy đủ quyền truy cập trên Văn Đàn. Việc Đăng Ký hoàn toàn miễn phí và rất nhanh chóng.
    Thân!

LH Cao Cấp TỔNG HỢP CÁC THỂ LOẠI THƠ ĐƯỜNG LUẬT

Thiên Sầu
  • Lượt xem 12K
  • Trả lời: 9
1. HỌA VẬN

Một người làm bài xướng lên , một người nữa làm bài khác họa lại mà các vần trong bài họa phải theo y như các vần trong bài xướng , còn ý nghĩa hoặc phụ theo cho rộng , hoặc trái hẳn lại ( phản đề ) :

Hỏi Ả Bán Chiếu

Xướng
Ả ở đâu nay bán chiếu gon ?
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn ?
Xuân thu nay độ bao nhiêu tuổi ?
Đã có chồng chưa được mấy con ?
( Nguyễn Trãi )

Họa
Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon .
Cớ chi ông hỏi hết hay còn ?
Xuân thu tuổi mới trăng tròn lẻ
Chồng còn chưa có , nói chi con !
( Nguyễn thị Lộ )

2. THỦ NHẤT THANH ( NHẤT ĐỒNG)

Từ đứng đầu 8 câu đều giống nhau .

Tám Mừng

Mừng đón xuân về muôn sắc hoa ,
Mừng xuân , xuân mới , mới thêm ra .
Mừng nghe nhựa sống như còn trẻ ,
Mừng thấy đời tươi , chửa muốn già .
Mừng khoẻ đôi chân đi đứng vững ,
Mừng tinh cặp mắt ngắm nhìn xa .
Mừng nhau tuổi Thọ tăng tăng mãi
Mừng được trường xuân hưởng thái hòa .
(1986 Lạc Nam )

3. SONG ĐIỆP

Tất cả 8 câu đều có hai điệp từ :

Chuyện Đời

Vất vất vơ vơ , cũng nực cười ,
Căm căm cúi cúi có hơn ai .
Nay còn chị chị anh anh đó ,
Mai đã ông ông mụ mụ rồi .
Có có không không lo hết kiếp ,
Khôn khôn dại dại ,chết xong đời.
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy ,
Ngũ ngũ ăn ăn nói chuyện chơi . ( Nguyễn Công Trứ )

4. SONG ÐIỆP ÐỘC VẬN

Tất cả 8 câu đều có 1 từ và chỉ có 1 vần .

Xuân và thơ

Xuân tự ngàn xưa, bạn với thơ
Tình Xuân là cả vạn lời thơ
Ðẹp duyên hoa bút , Xuân ngời sắc
Rộn khúc Xuân thiều , nhạc ánh thơ
Xuân vắng , oanh hờn , dầu dáng liễu
Xuân về hương tỏa ngát lời thơ
Xuân nương thi sỉ, đôi người ngọc
Dệt mộng ngày Xuân , lộng ý thơ
. ( Lạc Nam )

5. DĨ ÐỀ VI THỦ

Lấy 8 từ đầu để mở đầu cho 8 câu thơ :

Xướng : " Trăm điều hãy cứ trong vào một ta "

Trăm nỗi bân khuân góp chuyện lòng
Ðiều chi mà ngại nghĩa non sông
Hãy buông lá thắm xuôi dòng vắng
Cứ để hoa đào cợt gío đông
Trông nẽo lầu thơ chờ hạnh ngộ
Vào trong giấc mộng đợi tao phùng
Một phen tâm sự hòa theo nhạc
Ta sẽ cùng nhau viết thỉ chung

Họa : " Ði đâu chẳng biết con người sở khanh "

Ði mãi đường xa đã biết lòng
Ðâu còn mơ tưởng núi cùng sông
Chẳng đem thơ ấy treo lầu vắng
Biết chọn hoa nào bán chợ đông
Con mắt chưa từng xanh thế tục
Người quen đành tạm trắng tương phùng
Sở Tần , xin nhắn thà xa cách
Khanh tướng đâu mà nghĩ đỉnh chung !

6. DĨ ÐỀ VI VẬN

Lấy đầu đề làm vần :

Không Chồng Trông Bông Lông

Xướng :

Bực gì bằng gái chực phòng không
Tơ tưởng vì chung một tấm chồng
Trên gác rồng mây ngao ngán nhẽ !
Bên trời cá nước ngẫn ngơ trông
Mua vui lắm lúc cười cười gượng
Gỉa dại nhiều khi nói nói bông
Mới biết có chồng như có cánh
Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông
( Nguyễn Khuyến )

Họa :

Phật rằng sắc sắc với không không
Sắc sắc không không khó chất chồng
Ân oán , nhiều người còn có ngóng
Trai oán , lắm kẻ vẫn chờ trông
Thế gian , nhân quả nhanh như bóng
Cõi Phật , nhân duyên nhẹ tựa bông
Xuân đến hoa xuân tươi đẹp mãi
Luân hồi ra khỏi, hết bông lông
( Cổ Lai Hy ( nhóm Silicon ))

7. TOÁN THI

Cả bài câu nào cũng có từ chỉ con số :

Thân phận gái

Một sớm phân vân bước xuống thuyền .
Tưng bừng hai họ nỗi sầu riêng .
Lặng nhìn ba má đôi giòng lệ
.
Xác pháo bốn bề nát phận duyên .
Năm tháng rồi đây tùy số kiếp .
Hoài lang sáu nhịp vọng chim uyên .

Bảy ba chìm nổi tình nhi nữ .
Đôi tám sang ngang , đạo chính chuyên .
( Tùng Linh )

8. LIÊN HOÀN

Thể thơ có nhiều đoạn , câu cuối của đoạn trên được chuyển thành câu đầu của đoạn dưới :

Thi Lấy Được

Anh Phán nhà ta biết cóc gì
Kỳ thi Tham biện cũng ra thi
Nhất thì anh đỗ , nhì anh trượt

Chẳng đậu khoa này , khoa khác đi

Chẳng đậu khoa này , khoa khác đi
Nam nhi chi chí , há lo gì
Một , hai , ba , bốn , năm năm trượt

Nhẳn mặt quan trường , chẳng thẹn chi

Nhẳn mặt quan trường , chẳng thẹn chi
Trượt thi , thi trượt , vẫn gan lì
... ... ... ( Tú Mỡ )


Lính Tập Vinh Qui

Chú đội qua Tây thắng trận về .
Cả nhà đón rước thật mừng ghê !
Ông già , bà lão gồm hai cụ
Vợ giảnh (1) , con ngoan đủ mọi bề
Nảy ngực mề đay tiền bạc chói
Rạng mình khố đỏ áo vàng xuê
Giang sơn mày mặt càng tươi tốt

Bộ cất tay lên ngó cũng nghề (2)

Bộ cất tay lên ngó cũng nghề
Miệng cười tróm trém , húi râu dê (3)
Xông pha trăm trận từng hăm hở
Gánh vác hai vai ghẹo (4) nặng nề !
Mở mặt Tiên Rồng dòng Đại Việt
Nổi danh hùng hổ cõi Âu-Tê (5)
Trong tình cảnh nọ dầu không vẻ
Văng vẳng dường nghe tiếng ắc - đê ! (6)
( N.V.H )

(1)- vợ giảnh : vợ đẹp ( tiếng Nghệ )
(2)- Có vẻ tay nghề
(3)- Bộ râu xén như râu dê
(4)- Dù công việc có nặng đến đâu , cũng không ngại
(5)- Âu Tê : Âu Tây
(6)- ắc - đê : tiếng hô đi đều của lính Pháp

9. LIÊN HOÀN THUẬN NGHỊCH VẬN

Cũng là thể thơ Liên hoàn như trên, nhưng bài thứ 2 viết ngược vần lại với bài thứ nhất

KHÚC ẢO VỌNG
(NĐT, liên hoàn thuận nghịch vận)

Nhắc chỉ thêm buồn chuyện đã qua
Chùng dây lỗi nhịp khúc giao hòa
Người luôn mải nghiệp vàng trong đá
Kẻ vẫn say tình mộng dưới hoa
Bởi mãi hoang đàng con sóng bạc
Nên hoài lạnh lẽo cánh buồm xa
Giờ đây quạnh quẽ ngồi nhung nhớ
Tiếc quãng đời xanh tuổi ngọc ngà

Tiếc quãng đời xanh tuổi ngọc ngà
Thương mùa nắng đẹp bẽ bàng xa
Vì phai viễn cảnh nhòa hương ái
Để lỡ xuân thì nhạt sắc hoa
Phải cõi trầm tâm hòng gội xóa
Làm cung phẫn nhạc tấu vang hòa
Cô phòng lãng tử gài then biệt
Sám tội âm thầm khổ cũng qua.

Thiet Duong _28.02.2014

10. Ô THƯỚC KIỀU

Thể thơ liên hoàn như trên , nhưng lấy 2 từ cuối , hoặc nhắc lại 2 , 3 từ nào đó ở câu cuối của bài trên để mở đầu cho câu 1 của bài dưới :

Chống Tôn Thọ Tường

Lung lay lòng sắt đã mang nhơ ,
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ .
Người trí mang lo danh chẳng chói ,
Đứa ngu luống sợ tuổi không chờ .
Bài hòa đã sẵn in tay thợ ,
Cuộc đánh hơn thua giống nước cờ .
Chưa trả thù nhà , đền nợ nước ,
Dám đâu mắt lấp với tai ngơ .


Tai ngơ sao đặng lúc tan tành ,
Luống biết trách người chẳng trách mình .
Đến thế còn khoe đàng đạo nghĩa ,
Như vầy cũng gọi kẻ trâm anh .
Biển khơi vụng tính dung thuyền nhỏ ,
Chuông nặng to gan buộc chỉ mành .
Thân có , ắt danh tua phải có ,
Khuyên người ái trọng cái thân danh .


Thân danh chẳng kể , thật thằng hoang ,
Đốt sáp nên tro lụy chẳng màng .
Hai cửa trâm anh xô sấp ngữa ,
Một nhà danh giá xóa tan hoang .
Con buôn khắp khởi chưa từng ngọc ,
Người khó xăng xăng mới gặp vàng .
Thương kẻ đồng văn nên phải nhắc ,
Dể đâu ta dám tiếng khoe khoang .
( Phan văn Trị (1830 - 1910 ))

11. THỂ TẬP DANH

a /. Trong mỗi câu có danh từ gắn với đề tài :

Mừng Ông Lão Hàng Thịt Ăn Thượng Thọ

Nay tiết mừng ông mới Bảy mươi ,
Cổ Hy (1) chưa dễ mấy lăm người .
Răng long nhưng hãy còn tinh mắt ,
Đầu bạc nhưng mà chửa tắc tai .
Bè bạn bày vai kèo (2) chén (3) ,
Cháu con dưới gối múa sân Lai (4) .
Xưa nay vẫn giữ lòng chân thật ,
Chữ đức giả xương máu để đời .
( Nguyễn Khuyến )


(1) Do câu " nhân sinh thất thập cổ lai hy " .
(2) Rót rượu mời người khác uống .
(3) Chén rượu của Lý Bạch , nhà thơ uống rượu nổi tiếng .
(4) Lão Lai : theo điển tích là người nước Sở vào thời Xuân Thu , tuổi đã ngoài 70 , còn cha mẹ , giả cách khóc như trẻ con làm cho cha mẹ vui .

b /- Mỗi câu thơ có 1 từ chỉ bộ phận trong thân thể con người :

Học Trò

Dài lưng tốn vải lại ăn no ,
Nghĩ ngán cho thân phận học trò .
Thù nước , thù vua , ngay mặt chịu ,
Công sưu , công ích , cắm đầu lo !
Vẫn giương mắt ếch mà ra quáng ,
Còn ngậm lông mèo (1) chả sợ ho !
Nói đến chuyện đời tai điếc đặc ,
Rung đùi , chí nghĩ " tám đùi " (2) to !
( Nhi Mỹ )

(1) Ngậm lông mèo : ngậm bút chữ Nho ( nghĩa bóng )
(2) Tám đùi : văn xưa gọi là " bát cổ " dịch là tám vế , vế đồng nghĩa với đùi .

12. THỂ TÍNH DANH

Câu nào cũng có từ chỉ nhân danh hay địa danh hoặc một điển tích của người Hoa hay người Việt v.v... . Thể loại này , xưa kia các cụ đồ Nho chuộng lắm vì như thế các cụ mới chịu cho là có học .

Lỗi Thề

Vùi oan bạc mệnh sóng Tiền Đường (1)
Ngọn đuốc Chiêm Thành (2) rở nhớ thương
Chắp cánh đẹp gì câu Thất Tịch (3)
Ôm cầm say mãi gái Tầm Dương (4)
Lỗi thề Chung Tử (5) sầu tri kỷ
Hoen mái Tây hiên (6) lệ đoạn trường
Hồ Hán (7) ngậm ngùi mây cách biệt
Ngân Hà (8) mưa gió nẻo cầu sương .
( Toại Khang )


(1) Kiều trầm mình ở sông Tiền Đường .
(2) Công chúa Huyền Trân phải sang lấy vua Chiêm Thành .
(3) Đường Minh Hoàng và Dương Qúi Phi đêm 7 tháng 7 âm lịch thề cùng nhau " sống làm vợ chồng , chết làm chim liền cánh cây liền cành " .
(4) Bạch Cư Dị , thi hào đời Đường , đêm đậu thuyền ở bến Tầm Dương viết nên bài Tỳ Bà Hành xót thương cho một người ca nữ tuổi về chiều .
(5) Chung Tử Kỳ - Bá Nha : chuyện Bá Nha đập đàn đi , không khảy nữa , khi hay tin Tử Kỳ chết .
(6) Trương Quân Thụy và Thôi Oanh tình tự dưới mái Tây hiên .
(7) Chiêu Quân nhà Hán sang cống Hồ .
(8) Ngưu Lang và Chức Nữ đứng 2 bên của sông Ngân Hà nhớ nhau khóc thành mưa ngâu trong tháng bảy Âm lịch .

13. SẮC THÁI

Câu nào cũng có từ chỉ màu sắc hoặc trạng thái của màu sắc :

Chiều Nổi Màu Thu

Trời thu bóng ác rực màu vang ,
Trườn trượt vào lưng rặng núi vàng .
Cánh nhạn chiều tà , sương lót trắng ,
Chòm mây mưa nhạt khói mờ lam .
Lầu thu thoát nắng nâng rèm tía ,
Vườn vắng còn đây nở đóa vàng .
Nếu chẳng vươn tìm hoa sún tím ,
Thì đâu được ngắm nguyệt da cam .
( Toại Khang )

THỂ THƠ BỎ LỬNG
Mỗi câu thơ ở phần cuối dùng từ lấp lửng không trọn nghĩa để người đọc tự đoán lấy

Người đâu .... ?

Thác bức rèm châu chợt thấy mà ...
Chẳng hay người ấy có hay là ...
Nét thu gợn sóng hình như thể ...
Cung nguyệt quang mây nhác ngỡ là ....
Khuôn khổ ra chiều người ở chốn ...
Nết na xem phải thói con nhà ...
Dở dang nhắn gửi xin thời hãy ...
Tình ngắn , tình dài chút nữa ta ...

14. THỦ VĨ NGÂM

Thể thơ trong đó câu đầu và câu cuối đều giống nhau .

Khoe Lười

Anh em chớ bảo tôi lười ,
Làm việc cho hay phải thức thời .
Xuân hãy còn chơi cho phỉ chí ,
Hạ mà cất nhắc tất hoài hơi .
Thu sang cảm nguyệt còn ngâm vịnh ,
Đông lại hằm chăn tạm nghĩ ngơi .
Chờ đến xuân sang ta sẽ liệu ,
Anh em chớ bảo tôi lười .
( Tú Mỡ )

Đèn Kéo Quân

Lúng túng trong vòng mấy đứa đen ,
Nhở khi đỏ lửa mới hay hèn .
Nghênh ngang vơng giá phô đồ giấy ,
Đủng đỉnh dù che nép bóng đe\n .
Thằng trước thằng sau liền gót chạy ,
Anh trên anh dưới vểnh râu lên .
Này ai say tỉnh nhìn xem thử ,
Lúng túng trong vòng mấy đứa đen .
( Khuyết danh )

Khóc Quan Phủ Vĩnh Tường

Trăm năm quan Phủ Vĩnh Tường ơi
Tuổi chửa ba mươi cũng một đời .
Chôn chặt văn chương ba thước đất ,
Ném tung hồ thỉ bốn phương trời .
Nắm xương dưới ván chau mày khóc ,
Hòn máu trên tay mĩm miệng cười .
Hăm bảy tháng trời là mấy chốc ,
Trăm năm quan Phủ Vĩnh Tường ơi .
( Hồ Xuân Hương )

15. THỂ TRIỆT HẠ

Từ cuối của mỗi câu thơ để bỏ lững làm cho câu thơ chưa trọn nghĩa , khiến người đọc phải vận dụng suy nghĩ .

Gái Hồng Nhan

Thấy gái hồng nhan bỗng chốc mà ...
Hỏi thăm cô ấy chửa hay đa\ ...
Hình dung yểu điệu yêu như thể ...
Diện mạo phương phi ngó tưởng là ...
Ăn mặc ra tuồng người ở chốn ...
Nói năng phải lẻ giống con nhà ...
Ước gì ta được mà ta để ...
Ta để đem về để nữa ta ...
( Ngyễn Qúy Tân )


16. THỂ YẾT HẬU

Các câu trên có đủ từ cả , riêng câu dưới cùng chỉ có một từ .

Rượu Say Nhè

Sống ở nhân gian đánh chén cay ,
Trăm năm ngày tháng giữ be đầy .
Diêm vương phán hỏi " Ai đó " ?
" Say " !


Sống ở nhân gian đánh chén khè ,
Trăm năm ngày tháng giữ đầy be .
Diêm vương phán hỏi " Ai đó " ?
" Nhè " !
( Phạm Thái )

17. THỂ ÁP CÚ

Từ cuối của câu trước trở thành từ đầu của câu sau .

Sang Canh

Năm nảo năm nao cũng ước lành
Lành
, còn mong hết ? đón sang canh
Canh
trời thắc thỏm phương xin lộc
Lộc
nước lăm le khách vít cành
Cành
lá đ e ^m qua dù thiếu nụ
Nụ
đ a\o xuân hé đẹp hơn tranh
Tranh
đời mới lại màu hoa gấm
Gấm
vóc sơn hà lộng sắc xanh .
( Toại Khang )

18. CHƠI CHỮ

TRÁI TIM THỪA

Te tua tài tử trái tim thừa
Thua thiệt teo tiền tủi tóc tơ
Tư tưởng tiêu tùng từ tám tết
Tứ thư thổn thức tới trăm tờ
Tan tành tâm trạng tìm thăm thẳm
Thê thảm tình thâm tiếc thẫn thờ
Than thở thều thào theo thế thái
Trôi thời tuổi trẻ thẹn thùng thơ

TD.ST _ 17/02/2014

19. KỴ ĐỀ:

Thể thơ trong đó tất cả 8 câu đều không có từ nào chỉ đề tài
mà vẫn thể hiện đầy đủ yêu cầu của đề tài

TỨ VÔ LƯỢNG *

Mở rộng lòng thương đến mọi người
Trao dành tất cả những niềm vui
Ra tay cứu dạy ai lầm lỗi
Bỏ sức cưu mang kẻ chán đời
Hỷ xả nhân sinh càng sáng đẹp
Từ bi cuộc sống lại thêm ngời
Dương trần sẽ bớt nhiều đau khổ
Giữ vẹn tâm thiền chúng bạn ơi.

Sông Lam. 30.03.2016

* Tứ vô lượng: Từ Bi Hỷ Xả gọi tắt là Từ Bi

20. BÁT ĐIỆP:

Là thể thơ trong đó tất cả 8 câu đều có lồng vào 1 hoặc 2 từ giống nhau.

SAY - TỈNH
(“Mấy kẻ nên say đều có tỉnh
Làm người có tỉnh mới nên say”- Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Đằng đẵng cơn say chờ lúc tỉnh
Bàng hoàng khi tỉnh nốc men say
Hồn sầu lai láng say rồi tỉnh
Rượu nhắp nồng nàn tỉnh lại say
Say kẻ phụ tình chưa thức tỉnh
Dặn lòng tỉnh mộng cứ mê say
Đời bao sóng gió người say tỉnh
Giấc tỉnh mơ màng nối giấc say.

TD.ST _ 21/02/2014

21. THỂ LIÊN NGÂM

Thể thơ trong đó 2 hoặc nhiều người làm chung một bài thơ lần lượt nhau mỗi người một hoặc hai câu . Tương truyền , bài Cảnh Tây Hồ , thể Liên Ngâm là bài thơ độc nhất vô nhị trên thi đàn Việt Nam do Bà Chúa Liễu Hạnh cùng ông Phùng Khắc Khoan , một ông họ Lý và một ông họ Ngô ( cả 2 không rõ danh tính ) chơi thuyền ở Hồ Tây cùng liên ngâm . Thường người mỡ đầu bài liên ngâm thì cũng là người kết thúc bài .

Liễu : Hồ Tây riêng chiếm một bầu trời
: Bát ngát tứ mùa rộng mắt coi
Cỏi ngọc xanh xanh làng phía cạnh

Phùng : Trâu vàng biêng biếc nước vàng khơi .
Che mưa nhà lợp vài gian cỏ .

Ngô : Chèo gió ai bơi một chiếc chài .
Giậu thủng chó đùa đàn sủa tiếng .

.......................................................
.......................................................
Phùng : Đông hết thành xuân chữa thấy mai ,
Thú cảnh yên hà sang dễ đọ .

Ngô : Sóng lòng trần tục dạ đầy vơi ,
Xe săn Vị Thủy tha hồ hỏi .

: Thuyền tới Đào Nguyên mặc sức bơi ,
Chuông sớm giục thanh lòng Phật đó .

Liễu : Trăng tròn soi bóng một tiên thôi !

( Nguyên văn chữ Hán Truyện Liễu Chúa , Phan Kế bính dịch Nôm trong Việt Hán văn khảo .)

Ngoài ra còn một số thể thơ sau đây mà các sưu tầm viên chưa tìm ra được bài mẫu :

22. THỂ HẠN VẬN

Người ra đề cho vần nào ta phải dùng vần ấy . Thể thơ này khác với thể Họa vận vì không có bài xướng để dựa theo mà họa , hơn thế nữa , ta phải :

* Tả ý thơ theo đầu đề
* Dùng 5 vần hạn định ( trong 8 câu )


Thí dụ : Cuộc thi thơ do học gỉa Phan Kế Bính tổ chức như sau :

a . đầu đề là :
Trống treo ai dám đánh thùng
Bậu không , ai dám dở mùng chun vô ?




b . 5 vần hạn định : xô , cô , vô , ô , rô ...

Bài thơ sát với đầu đề , hạ đúng 5 vần hạn định , được giải nhất mà tác giả lại là một nhà sư chân tu !!! ... như sau đây :

Nào phải là ai dám giục ,
Thuận tình trước hết tự nơi .
Có cho mới dám trao dùi đánh ,
Không hẹn nào ai đẩy cửa ?
Mảng sướng kể gì thân lễ nghĩa ,
Ham vui quên hết chuyện dâm ô .
Thói hư thuần thước xưa còn lạc ,
Đừng học làm chi gióng nhảy !



23. THỂ PHÚ ĐẮC

Giải thích và phát triển ý của một câu ca dao hay một câu thơ bằng một bài thơ , nhưng nội dung phải phù hợp với sự việc đó , ta hãy xem qua bài này :

1. Già Còn Muốn Lấy Chồng

Phú đắc : Bà già đã bãy mươi tư , Ngồi trong cửa sổ gửi thư kén chồng .

Đã trót sinh ra kiếp má đào ,
Bảy mươi tư tuổi có là bao ?
Xuân xanh xấp xỉ hàng răng rụng ,
Ngày vắng ân cần mảnh giấy trao .
Chữ nhất nhi chung đành đã vậy (1) ,
Câu tam bất hiếu (2) nữa làm sao ?
May mà lấy được ông chồng trẻ ,
Họa có sinh ra được chút nào ?
( Nguyễn Khuyến )

(1) Nhất nhi chung : chỉ có một chồng cho đến trọn đời .
(2) Tam bất hiếu : do có câu " Bất hiếu hữu tam , vô hậu vi đại " , nghĩa là tội bất hiếu có 3 điều , không có con ( trai ) nối dõi là tội to nhất .

Bài thơ của tác giả vào cuối thế kỷ XVIII và đầu XIX với quan niệm Nho giáo trào phúng và có bảo thủ hẹp hòi so với phương Tây . Cụ Nguyễn Khuyến , thật sự khác với lối suy nghĩ của chúng ta ngày nay , mong các bạn đừng lấy làm thắc mắc
smilek.gif


2. ( Không rỏ tựa đề )

Phú đắc : Tối um um , trống điểm thùm, dáng lum khum , có lẻ hùm ! quán tùm hum !

Trời hôm như mực cỏ xanh um ,
Kẽm trống đâu đây bước đánh thùm .
Ven núi chẳng nề cao với thấp ,
Qua cầu đếch biết thẳng hay khum .
Đường mây , ngọn gió , đôi đàn vạc ,
Móng đá , chân sim , một đấu hùm .
Sực thức đêm khuya thương kẻ lạnh ,
Màn , chăn , đệm ấm hủm hùm hum .
( Lê lượng Thể )

24. Vĩ Tam Thanh

Là thể thơ trong đó ba từ cuối trong mỗi câu có cùng cách phát âm.

Ngẫu Hứng

Ta nghe gà gáy tẻ tè te
Bóng ác vừa lên hé hẻ hè
Cây một chồi cao von vót vót
Hoa năm sắc nở lỏe lòe loe
Chim tình bè lứa kia kìa kỉa
Ong nghĩa vua tôi nhé nhẻ nhè
Danh lợi mặc người ti tí tỉ
Ngủ trưa chửa dậy khỏe khòe khoe

(Vô Danh)

25. LƯỠNG ĐẦU XÀ NGHỊCH THIỆT:

Thể thơ có những cụm từ đôi hoặc cụm từ ba được lái thành cụm từ đôi khác ở trong câu.

Ngọa hổ tàng long

Hàn Quốc em mơ đời ngọa hổ
Đài Loan nàng tưởng chốn tàng long


Đàn xưa ai gẩy khúc đưa xàng
Xang cống hò xề xê cống xang
Ngộ hỏa Đài Loan tìm ngọa hổ
Tòng lang Hàn Quốc kiếm long tàng
Lạch sông bươn chải chưa sanh lộc
Vàng đá nát tan chuyện đá vàng
Chóng biết quê người ôm chiếc bóng
Chàng can … tủi phận … lệ chan càn…!!!

Chu Hà

26. CÔ NHẠN XUẤT QUẦN

Thể thơ trong đó mấy vần trên đi với nhau, chỉ có vần dưới làm khác hẳn đi.

LUẬN MỸ NHÂN THIÊN HẠ

Giai nhân bốn bể cũng không bằng
Lộng Ngọc, Điêu Thuyền vẫn chẳng xinh
Đắc Kỷ trông vào than xót phận
Tây Thi ngóng lại thẹn đau mình
Trời Tây Vệ Nữ nom ngùi dạ
Đất Bắc Chiêu Quân ngẫm tội tình
Mắt biếc làm ngây hồn kẻ sĩ
Thơ này gửi trọn đến Thùy Linh.

Sông Lam, 29.01.2016

27. CÔ NHẠN NHẬP QUẦN

Thể thơ trong đó vần câu đầu làm khác hẳn, không giống mấy vần dưới.

MỘNG KHÔN THÀNH.21

Tuyết lạnh ngoài kia phủ trắng đường
Cho lòng nặng nhớ..nhớ thê lương
Thời xưa Ngoại dẫn con đi học
Thưở ấy bà đưa cháu đến trường
Một chuyến đò ngang rời đất mẹ
Hai dòng lệ rớt biệt quê hương
Quỳ đây kẻ lạy...lần sau cuối
Để biết chia ly....chẳng trở về

Văn Đàn
Lăng Thiên


28 . TRƯỜNG THIÊN:

Là bài thơ dài (hơn 8 câu), nhưng trừ 2 câu đề và 2 câu kết, các cặp câu còn lại trong bài vẫn có đối như bát cú.

Xuân Ẩn Cư

Xuân chẳng thưởng đào, chẳng ngắm mai,
Ẩn cư hang núi, chốt sương cài
Cảm thương nghiệp nước, mây đùn khói
Đau xót tình người, đá sởn gai
Phước mỏng, đâu kham đời dịch họa
Thân gầy, nào chịu cảnh thiên tai?
Tiếc tâm, không đủ nhân lành tốt!?
Tủi đức, chưa dung chuyện xấu sai!?
Cửa hẹp, vắng tênh, trăng ngủ mệt
Phòng đơn, lạnh lẽo, dế rên dài
Dòng văn, ngơ ngác, trơ hoa đốm!
Câu chữ, thẹn thùng, mọt nghiến tai!
Điên đảo nhân sinh, điên đảo mãi
Ngả nghiêng thế đạo, ngả nghiêng hoài
Bi từ đức Phật, nguồn vô lượng
Nhen lửa trái tim ấm một vài.

MĐTTA. (Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

29. THỂ VẤN NGHI

Câu nào cũng theo thể hỏi , nên sau mỗi câu đều được đặt dấu hỏi cả .

Vấn Nguyệt

Trải mấy thu nay vẫn hãy còn ?
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn ?
Hỏi con Ngọc Thố đà bao tuổi ?
Chớ chị Hằng Nga đã mấy con ?
Đêm thắm cớ chi soi gác tía ?
Ngày xanh còn thẹn với vừng son ?
Năm canh lơ lững chờ ai đó ?
Hay có tình riêng với nước non ?
( Khuyết danh )

30. THUẬN NGHỊCH ĐỘC VẬN

Thể thơ khi đọc xuôi là một bài thơ , mà đọc ngược cũng là một bài thơ . Thể thơ này đòi hỏi công phu ghép từ thật khéo và phải làm theo đúng luật bằng , trắc để có thể đọc xuôi , đọc ngược đều có nghĩa , câu thơ phải chải chuốt không khổ đọc .

Cảnh Tây Hồ

( Đọc xuôi )
Đây vui thực lạ cảnh Tây Hồ !
Trước tự trời kia khéo vẽ đồ .
Mây lẫn nước xanh màu tỏ ngọc ,
Nguyệt lồng hoa thắm vẻ in châu .
Cây la tán rợp từng cao thấp ,
Sóng gợn cầm tiêu nhịp nhỏ to .
Bày khéo thú vui non nước đủ ,
Tây Hồ gía ấy đễ đâu so !
( Khuyết danh )

( Đọc ngược )
So đâu dễ ấy giá Hồ Tây ?
Đủ nước non vui thú khéo bày .
To nhỏ nhịp tiêu cầm gợn sóng ,
Thấp cao từng rợp tán lá cây .
Châu in vẻ thắm , hoa lồng nguyệt ,
Ngọc tỏ màu xanh nước lẫn mây .
Đồ vẽ khéo kia trời tự trước ,
Hồ Tây cảnh lạ thực vui đây !


Xuân Hứng

( Đọc xuôi Hán văn )
Thi đàn tế lễ lộng hoa hài ,
Khách bộ tùy sương ẩn bích đài .
Kỳ cục đã thanh phong giáp trận ,
Tửu hồ khuynh bạch tuyết hòa bôi .
Sơ liêm thấu nguyệt hương hung trúc ,
Tuyết án lăng hoa vị áp mai .
Phi phất thảo am đầu tĩnh điếm ,
U tình cố nãi thuộc quyên ai !
( Khuyết danh )

( Đọc ngược theo phiên âm chữ Nôm )
Ai quen thuộc ấy có tình ư ?
Điếm tĩnh đầu am cỏ phất phơ .
Mai ép mùi hoa lùng án tuyết ,
Trúc lồng hương nguyệt thấu rèm thưa .
Chén hòa tuyết trắng nghiên hồ rượu ,
Trận giáp phong thanh đánh cuộc cờ .
Rêu biếc in sương theo bước khách ,
Hài hoa lỏng lẻo tới đàn thơ .


31. PHÁ CÁCH

Thơ làm thất niêm có dụng ý

Đèo ba dội

Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa con đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.
(Hồ Xuân Hương)


Đèo Ba Dội hay Ba đèo tên chữ là đèo Tam Điệp, thuộc huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Không phải Đèo Ngang như có sách đã nhầm.

Chú thích : Bài thất ngôn bát cú này được làm theo thể bình , vần bằng , nhưng không theo niêm luật .

32. TUNG HOÀNH TRỤC KHOÁN:

Là bài thơ mà từ 1 cặp câu đối, viết thành 1 bài thơ có hàng các từ đầu của bài thơ là câu thứ nhất của câu đối, còn câu cuối bài thơ là vế thứ 2 của cặp đối đó.

HỌC TẬP
“Tung hoành trục khoán”
TẬP MÀI THƯ PHÁP DÂNG TRAO BẠN
HỌC CHUỐT CHỮ CÂU KÍNH HỎI NGƯỜI


TẬP tễnh chênh vênh thậm rã rời
MÀI nghiên mực cảm gọt đau lời
THƯ yên tham bác về muôn nẻo
PHÁP lạc hành trì đến mọi nơi
DÂNG kẻ sa đà thôi khốn đốn
TRAO đời thất chí bớt chơi vơi
BẠN ơi ! xin nguyện luôn cầu thị…
HỌC CHUỐT CHỮ CÂU KÍNH HỎI NGƯỜI

Lê Đăng Mành

**********************************

33. KHOÁN THỦ CHIẾT TỰ:

Là bài thơ mà từ một tên người hay tên địa danh nào đó, chẻ các chữ cái trong danh từ đó thành từ đầu tiên của các câu đầu bài thơ.

LỜI TỎ TÌNH
(Khoán thủ chiết tự)

Anh từng mê đắm với nàng thơ
Như thể người say, dáng thẫn thờ.
Háo hức tình buông nơi biển mộng
Yên bình ý thả giữa trời mơ.
Êm đềm ngày hạ bao mong đợi
U uất đêm đông bấy ngóng chờ.
Em có thấu chăng duyên đã thắm
Mỏi lòng sớm dệt những đường tơ!

Xuân Lộc

34. XA LUÂN NGŨ BỘ:

Là bài thơ dài gồm 5 bài thơ được liên kết nhau bởi 5 vận của bài đầu, 5 vận này được đảo đi đảo lại có trình tự xoay vòng như cái bánh xe luân chuyển vậy.

VÀO HÈ

1

Cây cối um tùm xanh tiếng ve
Hoa cau trước cửa trắng bông xòe
Mẫu đơn đỏ ngọn tươi roi rói
Bóng nước toòng teeng đỏ lập lòe
Bên cổng đăng tiêu đeo nụ biếc
Trước vườn xiêm thái nắng vàng hoe
Mầu tươi sắc thắm no đầy mắt
Nhìn ngắm trong lòng thấy khỏe khoe ?

2

Lá sen lá súng nở bung tòe
Cây cối um tùm xanh tiếng ve
Cu gáy gù nhau trên khóm trúc
Nồm nam thổi lại thoảng bên hè
Con tằm nhả kén tơ vàng óng
Đõ mật đầy ong đỗ nặc nè
Thiếu nữ mấy cô đi dạo phố
Áo dài tha thướt ngực tròn xoe.

3

Màu trắng đằng đông nứt một khe
Mặt trời chưa mọc mới ho he
Sao thưa nhấp nháy chân trời sáng
Cây cối um tùm xanh tiếng ve
Chim cuốc gọi bầy kêu luốc cuốc
Gà choai tập gáy cất te te
Sớm mai làng xóm lo mùa vụ
Í ới gọi nhau rộn sớm hè.

4

Con trâu cầy mệt thở phè phè
Tháo óng ông cầy thả đó nghe
Bà vợ đưa cơm mang lỉnh kỉnh
Ông cầy hút thuốc rít re re…
Mặt trời đứng đỉnh nom tròn bóng
Cây cối um tùm xanh tiếng ve
Bà xã đưa cơm về tới xóm
Vườn sau rộn rã tiếng chim chòe

5

Xuống núi mặt trời đã khuất che
Hoàng hôn dần xẫm bóng hàng tre
Khói chiều các bếp lên nghi ngút
Nhuộm nắng mây bông hóa đỏ khè
Bọn trẻ chăn trâu tìm bãi tắm
Mấy bà tát nước đắp bờ be
Nghé con nhớn nhác kêu tìm mẹ
Cây cối um tùm xanh tiếng ve.

18/09/2017
Đỗ Đình Tuân


**********************************

35. LỘC LƯ NGŨ BỘ:

Là bài thơ dài gồm 5 bài bát cú được liên kết nhau bằng 1 câu đầu của bài đầu, và nó lần lượt được chuyển sang các bài sau theo thứ tư ở vị trí 2, 4, 6, 8.

Ví dụ:

TIẾNG LÒNG

“Lộc lư ngũ bộ”

Xin trồng điềm tĩnh giữa buồn đau
Dẫu bệnh làm cho dạ héo sầu
Nhân lỡ đem gieo từ thuở trước
Quả đành phải hái đến mai sau
Chẳng chờ trí mở kho huyền diệu
Không đợi tuệ khai ngõ nhiệm mầu
Thanh thản an vui cùng thực tại
Ngộ ra sanh diệt một ga tàu

Thấy rõ vô thường vẽ bể dâu
Xin trồng điềm tĩnh giữa buồn đau
Hãy xem hội ngộ như tia chớp
Mà nhận tương phùng tợ bóng câu
Biết chắc khốn cùng hay ở lại
Nên cầm an lạc chớ qua mau
Tang thương cũng diễn trò sân khấu
Giọt lệ khóc cười cứ đổi trao

Mong gì hợp phố lội tìm châu
Đã cách xa rồi níu được đâu
Hãy thắp yên vui bên khốn quẫn
Xin trồng điềm tĩnh giữa buồn đau
Thương hồi tiễn bạn lên biên giới
Nhớ lúc đưa tôi đến địa đầu
Vướng phải tai ương rời chiến hữu
Thân tàn vất vưởng buổi xa nhau

Vẫn giữ trong tim khó nhạt màu
Phiêu bồng trơ trọi với ngàn lau
Phong tư bỏ lại càng thương cảm
Tráng khí xa rồi cứ khát khao
Đã cấy an nhiên bờ khổ ải
Xin trồng điềm tĩnh giữa buồn đau
Thong dong ngồi tát đìa cô tịch
Nhặt phiến phù vân rụng dưới cầu

Thôi thì an phận bỏ lao xao
Nhàn nhã thung thăng dưới cội đào
Lỏng khỏng chờ đêm về lượm nguyệt
Bơ thờ đợi tối đến khều sao
Nuôi thần đạm bạc ngừng mơ tưởng
Dưỡng khí thanh bần chớ ước ao
Thành bại ,có không thôi khắc khoải
Xin trồng điềm tĩnh giữa buồn đau

BVTW Huế - Hè 2016
Những ngày nằm viện
Như Thị


**********************************

36. BÁT CÚ PHÂN MINH:

Là bài thơ bát cú mà 8 câu, mỗi câu đều có phụ âm (nguyên âm) đầu giống nhau. Chú ý ở thể này, các chữ T-TR-TH, hoặc C-CH,... phân biệt nhau.

Ví dụ:

BỆNH TƯƠNG TƯ
(Bát cú phân minh, độc nữu)

Tại tình tồi tệ tựa tàn tơ
Tán tỉnh tương tư tám tỉ tờ
Thổn thức thuê thùa than thấy thánh
Thầm thì thệ thốt thở thành thơ.
Trong trời trắc trở trăm trần trụi
Trên trán tràn trề triệu trống trơ
Tức tưởi tim tôi tiều tụy tái
Thì thôi thủng thẳng thử theo thờ.

Sông Lam, 25.11.2015

**********************************

37. NGŨ ĐỘ THANH:

Là bài thơ phải là chính luật, trong mỗi câu phải có đủ 5 thanh dấu, các thanh trắc phải khác nhau và các thanh bằng giống nhau phải đặt ở vị trí không gần nhau. Các vận cuối cũng thanh dấu cũng khác nhau.

MỘNG KHÔN THÀNH.4

Chỉ viết lời thơ trĩu nặng buồn
Duyên này cách biệt kẻ đành buông
Hồn theo buổi cũ về sương lạnh
Mắt dõi ngày xưa gọi biển cuồng
Lại muốn dòng châu đừng chảy nữa
Xin cầu suối lệ hãy dừng tuôn
Tình yêu chỉ một trao nàng hết
Đã thấm trần gian một vở tuồng

Văn Đàn
Lăng Thiên


38. THƠ VẦN TRẮC

Trong thơ vần trắc cũng có 2 loại: luật trắc vần trắc và luật bằng vần trắc

MỪNG TUỔI BẢY MƯƠI
(Mừng thọ bác Kha 70 xuân)

Con giáp xoay vòng giờ đến Sửu
Thất tuần đáo tuế mừng thi hữu
Đêm xuân ngâm ngợi Hán Đường thư
Ngày hạ khề khà Mai Quế tửu
Cảm hứng chứa chan ông đón tân
Ý tình dào dạt bà đưa cựu
Tương giao sơ ngộ họa đôi dòng
Chúc bác Ngọc Kha thọ bách cửu

La Thụy
(Tháng 7/ Kỷ Sửu )


**********************************

39. THỦ VĨ THOÁI HOÀN XA LUÂN:

Là thể thơ mà trong mỗi câu, từ đầu câu và từ cuối câu giống nhau, và câu cuối lại lặp lại câu 1 như thủ vĩ ngâm.

Ví dụ:

OAN

Oang cả làng face tiếng chửi oang
Oan mà bọn nó bảo không oan!
Ọa ui phía đó ran lời ọa
À úi đàng kia rộn tiếng à!
Á hự ai người vang ngữ á
Oa hừ mấy kẻ vọng từ oa?
Oán mà chẳng thể than rằng oán
Oang cả làng face tiếng chửi oang!

5.4.15-------------Phong Trần

**********************************

40. VẤN – ĐÁP:

Là bài thơ mà có 2 nhân vật, một người hỏi và 1 người trả lời.

Ví dụ:

TRỜI HỎI - TÁO TRÌNH

Ngọc Đế:

Gọi Táo vào đi trẫm hỏi này
Dương trần chuyện cũ tấu trình ngay
Năm rồi thắng lợi sao thì bẩm
Tháng đã tồn hư đặng tỏ bày!

Táo trình:

Thiên Hoàng đã gọi Táo trình ngay
Chuyện cũ vừa qua khổ chất đầy
Vận nước Tàu Trung còn để bẫy
Lòng dân Cẩu Tặc vẫn chia bầy
Ngày vui vỏn vẹn như chừng ấy
Buổi nhọc dồi dư ngỡ thế này
Ngẫm thật tình kia mà phải xót
Trên trời Ngọc Đế cũng nào hay ?

Ngọc Đế:

Lão Táo khanh đà hỏi đặng hay
Ta mời bậu tỏ những lời ngay
Xin đừng úp mở đau lòng trẫm
Cụ thể như nào nói rõ đây !

Táo thưa:

Kính bẩm trời cao trọn nỗi này
Năm rồi xã hội lắm phiền thay
Ngoài khơi lũ Khựa luôn dòm ngó
Giữa nước dân mình lại trả vay
Tế sự lừa nhau còn bỏ ngõ (1)
Môi trường nhiễm bẩn lại tàn cây (2)
Nên là nóng, lạnh rồi mưa bão (3)
Chỉ mệt anh nghèo mãi trắng tay.
Chỉ mệt anh nghèo mãi trắng tay
Ngài gieo giá lạnh khổ thân gầy
Gian tà thịt bẩn tuồn như bão
Ác quỷ hoa Tàu vãi tựa mây (4)
Nước ngọt ruồi bâu vùi kẻ lẫn (5)
Duyên tình chó gặm bủa thằng ngây (6)
Còn bao chuyện nữa trình sao hết
Kính bẩm trời cao trọn nỗi này !

Ngọc Đế:

Bao điều Táo ngỏ trẫm đà hay
Đón Khỉ chào Dê chạnh nỗi này
Chuyện cũ qua rồi xin dứt bỏ
Mong rằng buổi mới vạn niềm may !

Sông Lam, 01.02.2016 (23 tháng Chạp, Ất Mùi)
Chú thích:
(1) Kinh tế dậm chân
(2) Chặt phá cây
(3) Năm rồi là năm nóng nhất trong nhiều năm, nhưng cũng có đợt rét kỷ lục vừa qua
(4) Hoa quả Trung Quốc
(5) Chai nước Number One có ruồi dẫn đến người bị 7 năm bóc lịch
(6) Vì chuyện tình yêu không thành dẫn đến vụ chém chết 6 mạng người ở Bình Phước.

**********************************

41. NGŨ NGÔN BÁT CÚ

Thể này cũng giống như Thất ngôn bát cú, nhưng thay vì mỗi câu có 7 chữ mà giảm còn 5 chữ. Với 1 bài Thất ngôn bát cú chính thể, ta chỉ cần bớt 2 chữ đầu của mỗi câu là thành 1 bài Ngũ ngôn. Ngoài thể này ra còn có ngũ ngôn tứ tuyệt, bát ngôn tứ tuyệt.

TIẾT ĐÔNG

Sáng nay bão tuyết nhiều
Gió lạnh buốt đìu hiu
Nhắp chút càphê nóng
Khói cay điếu thuốc thiêu
Nhìn hoa lan ướt lạnh
Hát nhạc khúc tình yêu
Thoa dịu bàn tay ấm
Tiết đông đẹp mỹ miều.

Hoàng Huy 01/2012

42. LÁY THƠ

Thể thơ mà trong đó hoặc ở đầu câu , ở giữa câu hay ở cuối câu đều có các từ láy . Láy có 3 loại :

a /. Láy từ : Từ dùng trước được láy lại toàn bộ ở từ sau : ngời ngời , xinh xinh , ngà ngà , ngoan ngoan ...

b /. Láy âm : Bộ phận phụ âm đầu của từ trước được láy lại ở bộ phận phụ âm của từ sau : khó khăn , đỡ đần ...

c /. Láy vần : Bộ phận vần của từ trước được láy lại ở bộ phận vần của từ sau : bồn chồn , lẩm cẩm , cheo leo , riu ríu , lôi thôi ...

Và được phân bố trong 3 thể :

1/. Láy đôi :

Quan Khánh

Đứng tréo trông theo cảnh hắt heo
Đường đi thiên thẹo , quán cheo leo .
Lợp lều quán cỏ tranh xơ xác ,
Xỏ kẽ kèo tre đót khẳng khiu .
Ba chạc cạy xanh hình uốn éo ,
Một dòng nước biết cảnh leo teo .
Thú vui quên cả niềm lo lắng ,
Kìa cái diều kia nó lộn lèo .
( Hồ Xuân Hương )

2/. Láy ba ( hay còn gọi là Vỹ Tam Thanh ) : sạch sành sanh , sát sàn sạt , ti tí tị ...

Ngẫu Hứng

Tiếng gà bên gối tẻ tè te ,
Bóng ác trông lên hé hẻ hè .
Cây một chồi cao von vót vót ,
Hoa năm sắc nở lóe lòe loe .
Chim tình bè lứa kia kìa kịa ,
Ong , nhĩa vui tôi nhé nhẽ nhè .
Danh lợi mặc người ti tí tị ,
Ngủ trưa chửa dậykhoẻ khoè khoe .
( Vô danh )


3/. Láy tư : ( Song điệp : xem thể Song điệp ) Trùng trùng điệp điệp , lúng ta lúng túng , hớt hơ hớt hải , áo áo quần quần ...

Hạ Long Tức cảnh

Trùng trùng điệp điệp núi chon von ,
Ảo ảo mơ mơ thế trận hồn .
Lớp lớp hàng hàng hòn Bái Tử ,
Non non nước nước một lòng son .
( Tùng Linh )

43. ĐẢO TỪ :

Là thể thơ có những cụm từ đôi được lái thành cụm từ đôi khác ( hoặc cụm từ ba, nhưng rất ít ) , như trong câu : " Con cá đối nằm trong cối đá " . hoặc trong cảnh Trạng Quỳnh ngồi bờ ao chơi đá bèo làm cho bà chúa thơ Nôm phải đỏ mặt .

Muốn Quy Thuyền

Cầu đạo cần chi phải cạo đầu
Dầu lai
dưa muối cũng dài lâu
Na bường
bước tới nương bà vãi
Dầu sãi không tu cũng giải sầu
( Thảo Am )

Nhắn Bạn

Nhắc bạn những thương tình nhạn bắc
Trông đời
chỉ thấy cảnh trời đông
Đêm thâu
tiếng dế đâu thêm mãi
Cười ngã nghiên cho mệt cả người
( Thảo Am )


Trên đây là một số thể loại thơ Đường luật, ngoài ra còn rất nhiều biến thể nữa. Mong các thi hữu chia sẻ để cùng nhau tiến bộ!
 
9 Bình luận
1. HỌA VẬN

Một người làm bài xướng lên , một người nữa làm bài khác họa lại mà các vần trong bài họa phải theo y như các vần trong bài xướng , còn ý nghĩa hoặc phụ theo cho rộng , hoặc trái hẳn lại ( phản đề ) :

Hỏi Ả Bán Chiếu

Xướng
Ả ở đâu nay bán chiếu gon ?
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn ?
Xuân thu nay độ bao nhiêu tuổi ?
Đã có chồng chưa được mấy con ?
( Nguyễn Trãi )

Họa
Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon .
Cớ chi ông hỏi hết hay còn ?
Xuân thu tuổi mới trăng tròn lẻ
Chồng còn chưa có , nói chi con !
( Nguyễn thị Lộ )

2. THỦ NHẤT THANH ( NHẤT ĐỒNG)

Từ đứng đầu 8 câu đều giống nhau .

Tám Mừng

Mừng đón xuân về muôn sắc hoa ,
Mừng xuân , xuân mới , mới thêm ra .
Mừng nghe nhựa sống như còn trẻ ,
Mừng thấy đời tươi , chửa muốn già .
Mừng khoẻ đôi chân đi đứng vững ,
Mừng tinh cặp mắt ngắm nhìn xa .
Mừng nhau tuổi Thọ tăng tăng mãi
Mừng được trường xuân hưởng thái hòa .
(1986 Lạc Nam )

3. SONG ĐIỆP

Tất cả 8 câu đều có hai điệp từ :

Chuyện Đời

Vất vất vơ vơ , cũng nực cười ,
Căm căm cúi cúi có hơn ai .
Nay còn chị chị anh anh đó ,
Mai đã ông ông mụ mụ rồi .
Có có không không lo hết kiếp ,
Khôn khôn dại dại ,chết xong đời.
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy ,
Ngũ ngũ ăn ăn nói chuyện chơi . ( Nguyễn Công Trứ )

4. SONG ÐIỆP ÐỘC VẬN

Tất cả 8 câu đều có 1 từ và chỉ có 1 vần .

Xuân và thơ

Xuân tự ngàn xưa, bạn với thơ
Tình Xuân là cả vạn lời thơ
Ðẹp duyên hoa bút , Xuân ngời sắc
Rộn khúc Xuân thiều , nhạc ánh thơ
Xuân vắng , oanh hờn , dầu dáng liễu
Xuân về hương tỏa ngát lời thơ
Xuân nương thi sỉ, đôi người ngọc
Dệt mộng ngày Xuân , lộng ý thơ
. ( Lạc Nam )

5. DĨ ÐỀ VI THỦ

Lấy 8 từ đầu để mở đầu cho 8 câu thơ :

Xướng : " Trăm điều hãy cứ trong vào một ta "

Trăm nỗi bân khuân góp chuyện lòng
Ðiều chi mà ngại nghĩa non sông
Hãy buông lá thắm xuôi dòng vắng
Cứ để hoa đào cợt gío đông
Trông nẽo lầu thơ chờ hạnh ngộ
Vào trong giấc mộng đợi tao phùng
Một phen tâm sự hòa theo nhạc
Ta sẽ cùng nhau viết thỉ chung

Họa : " Ði đâu chẳng biết con người sở khanh "

Ði mãi đường xa đã biết lòng
Ðâu còn mơ tưởng núi cùng sông
Chẳng đem thơ ấy treo lầu vắng
Biết chọn hoa nào bán chợ đông
Con mắt chưa từng xanh thế tục
Người quen đành tạm trắng tương phùng
Sở Tần , xin nhắn thà xa cách
Khanh tướng đâu mà nghĩ đỉnh chung !

6. DĨ ÐỀ VI VẬN

Lấy đầu đề làm vần :

Không Chồng Trông Bông Lông

Xướng :

Bực gì bằng gái chực phòng không
Tơ tưởng vì chung một tấm chồng
Trên gác rồng mây ngao ngán nhẽ !
Bên trời cá nước ngẫn ngơ trông
Mua vui lắm lúc cười cười gượng
Gỉa dại nhiều khi nói nói bông
Mới biết có chồng như có cánh
Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông
( Nguyễn Khuyến )

Họa :

Phật rằng sắc sắc với không không
Sắc sắc không không khó chất chồng
Ân oán , nhiều người còn có ngóng
Trai oán , lắm kẻ vẫn chờ trông
Thế gian , nhân quả nhanh như bóng
Cõi Phật , nhân duyên nhẹ tựa bông
Xuân đến hoa xuân tươi đẹp mãi
Luân hồi ra khỏi, hết bông lông
( Cổ Lai Hy ( nhóm Silicon ))

7. TOÁN THI

Cả bài câu nào cũng có từ chỉ con số :

Thân phận gái

Một sớm phân vân bước xuống thuyền .
Tưng bừng hai họ nỗi sầu riêng .
Lặng nhìn ba má đôi giòng lệ
.
Xác pháo bốn bề nát phận duyên .
Năm tháng rồi đây tùy số kiếp .
Hoài lang sáu nhịp vọng chim uyên .

Bảy ba chìm nổi tình nhi nữ .
Đôi tám sang ngang , đạo chính chuyên .
( Tùng Linh )

8. LIÊN HOÀN

Thể thơ có nhiều đoạn , câu cuối của đoạn trên được chuyển thành câu đầu của đoạn dưới :

Thi Lấy Được

Anh Phán nhà ta biết cóc gì
Kỳ thi Tham biện cũng ra thi
Nhất thì anh đỗ , nhì anh trượt

Chẳng đậu khoa này , khoa khác đi

Chẳng đậu khoa này , khoa khác đi
Nam nhi chi chí , há lo gì
Một , hai , ba , bốn , năm năm trượt

Nhẳn mặt quan trường , chẳng thẹn chi

Nhẳn mặt quan trường , chẳng thẹn chi
Trượt thi , thi trượt , vẫn gan lì
... ... ... ( Tú Mỡ )


Lính Tập Vinh Qui

Chú đội qua Tây thắng trận về .
Cả nhà đón rước thật mừng ghê !
Ông già , bà lão gồm hai cụ
Vợ giảnh (1) , con ngoan đủ mọi bề
Nảy ngực mề đay tiền bạc chói
Rạng mình khố đỏ áo vàng xuê
Giang sơn mày mặt càng tươi tốt

Bộ cất tay lên ngó cũng nghề (2)

Bộ cất tay lên ngó cũng nghề
Miệng cười tróm trém , húi râu dê (3)
Xông pha trăm trận từng hăm hở
Gánh vác hai vai ghẹo (4) nặng nề !
Mở mặt Tiên Rồng dòng Đại Việt
Nổi danh hùng hổ cõi Âu-Tê (5)
Trong tình cảnh nọ dầu không vẻ
Văng vẳng dường nghe tiếng ắc - đê ! (6)
( N.V.H )

(1)- vợ giảnh : vợ đẹp ( tiếng Nghệ )
(2)- Có vẻ tay nghề
(3)- Bộ râu xén như râu dê
(4)- Dù công việc có nặng đến đâu , cũng không ngại
(5)- Âu Tê : Âu Tây
(6)- ắc - đê : tiếng hô đi đều của lính Pháp

9. LIÊN HOÀN THUẬN NGHỊCH VẬN

Cũng là thể thơ Liên hoàn như trên, nhưng bài thứ 2 viết ngược vần lại với bài thứ nhất

KHÚC ẢO VỌNG
(NĐT, liên hoàn thuận nghịch vận)

Nhắc chỉ thêm buồn chuyện đã qua
Chùng dây lỗi nhịp khúc giao hòa
Người luôn mải nghiệp vàng trong đá
Kẻ vẫn say tình mộng dưới hoa
Bởi mãi hoang đàng con sóng bạc
Nên hoài lạnh lẽo cánh buồm xa
Giờ đây quạnh quẽ ngồi nhung nhớ
Tiếc quãng đời xanh tuổi ngọc ngà

Tiếc quãng đời xanh tuổi ngọc ngà
Thương mùa nắng đẹp bẽ bàng xa
Vì phai viễn cảnh nhòa hương ái
Để lỡ xuân thì nhạt sắc hoa
Phải cõi trầm tâm hòng gội xóa
Làm cung phẫn nhạc tấu vang hòa
Cô phòng lãng tử gài then biệt
Sám tội âm thầm khổ cũng qua.

Thiet Duong _28.02.2014

10. Ô THƯỚC KIỀU

Thể thơ liên hoàn như trên , nhưng lấy 2 từ cuối , hoặc nhắc lại 2 , 3 từ nào đó ở câu cuối của bài trên để mở đầu cho câu 1 của bài dưới :

Chống Tôn Thọ Tường

Lung lay lòng sắt đã mang nhơ ,
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ .
Người trí mang lo danh chẳng chói ,
Đứa ngu luống sợ tuổi không chờ .
Bài hòa đã sẵn in tay thợ ,
Cuộc đánh hơn thua giống nước cờ .
Chưa trả thù nhà , đền nợ nước ,
Dám đâu mắt lấp với tai ngơ .


Tai ngơ sao đặng lúc tan tành ,
Luống biết trách người chẳng trách mình .
Đến thế còn khoe đàng đạo nghĩa ,
Như vầy cũng gọi kẻ trâm anh .
Biển khơi vụng tính dung thuyền nhỏ ,
Chuông nặng to gan buộc chỉ mành .
Thân có , ắt danh tua phải có ,
Khuyên người ái trọng cái thân danh .


Thân danh chẳng kể , thật thằng hoang ,
Đốt sáp nên tro lụy chẳng màng .
Hai cửa trâm anh xô sấp ngữa ,
Một nhà danh giá xóa tan hoang .
Con buôn khắp khởi chưa từng ngọc ,
Người khó xăng xăng mới gặp vàng .
Thương kẻ đồng văn nên phải nhắc ,
Dể đâu ta dám tiếng khoe khoang .
( Phan văn Trị (1830 - 1910 ))

11. THỂ TẬP DANH

a /. Trong mỗi câu có danh từ gắn với đề tài :

Mừng Ông Lão Hàng Thịt Ăn Thượng Thọ

Nay tiết mừng ông mới Bảy mươi ,
Cổ Hy (1) chưa dễ mấy lăm người .
Răng long nhưng hãy còn tinh mắt ,
Đầu bạc nhưng mà chửa tắc tai .
Bè bạn bày vai kèo (2) chén (3) ,
Cháu con dưới gối múa sân Lai (4) .
Xưa nay vẫn giữ lòng chân thật ,
Chữ đức giả xương máu để đời .
( Nguyễn Khuyến )


(1) Do câu " nhân sinh thất thập cổ lai hy " .
(2) Rót rượu mời người khác uống .
(3) Chén rượu của Lý Bạch , nhà thơ uống rượu nổi tiếng .
(4) Lão Lai : theo điển tích là người nước Sở vào thời Xuân Thu , tuổi đã ngoài 70 , còn cha mẹ , giả cách khóc như trẻ con làm cho cha mẹ vui .

b /- Mỗi câu thơ có 1 từ chỉ bộ phận trong thân thể con người :

Học Trò

Dài lưng tốn vải lại ăn no ,
Nghĩ ngán cho thân phận học trò .
Thù nước , thù vua , ngay mặt chịu ,
Công sưu , công ích , cắm đầu lo !
Vẫn giương mắt ếch mà ra quáng ,
Còn ngậm lông mèo (1) chả sợ ho !
Nói đến chuyện đời tai điếc đặc ,
Rung đùi , chí nghĩ " tám đùi " (2) to !
( Nhi Mỹ )

(1) Ngậm lông mèo : ngậm bút chữ Nho ( nghĩa bóng )
(2) Tám đùi : văn xưa gọi là " bát cổ " dịch là tám vế , vế đồng nghĩa với đùi .

12. THỂ TÍNH DANH

Câu nào cũng có từ chỉ nhân danh hay địa danh hoặc một điển tích của người Hoa hay người Việt v.v... . Thể loại này , xưa kia các cụ đồ Nho chuộng lắm vì như thế các cụ mới chịu cho là có học .

Lỗi Thề

Vùi oan bạc mệnh sóng Tiền Đường (1)
Ngọn đuốc Chiêm Thành (2) rở nhớ thương
Chắp cánh đẹp gì câu Thất Tịch (3)
Ôm cầm say mãi gái Tầm Dương (4)
Lỗi thề Chung Tử (5) sầu tri kỷ
Hoen mái Tây hiên (6) lệ đoạn trường
Hồ Hán (7) ngậm ngùi mây cách biệt
Ngân Hà (8) mưa gió nẻo cầu sương .
( Toại Khang )


(1) Kiều trầm mình ở sông Tiền Đường .
(2) Công chúa Huyền Trân phải sang lấy vua Chiêm Thành .
(3) Đường Minh Hoàng và Dương Qúi Phi đêm 7 tháng 7 âm lịch thề cùng nhau " sống làm vợ chồng , chết làm chim liền cánh cây liền cành " .
(4) Bạch Cư Dị , thi hào đời Đường , đêm đậu thuyền ở bến Tầm Dương viết nên bài Tỳ Bà Hành xót thương cho một người ca nữ tuổi về chiều .
(5) Chung Tử Kỳ - Bá Nha : chuyện Bá Nha đập đàn đi , không khảy nữa , khi hay tin Tử Kỳ chết .
(6) Trương Quân Thụy và Thôi Oanh tình tự dưới mái Tây hiên .
(7) Chiêu Quân nhà Hán sang cống Hồ .
(8) Ngưu Lang và Chức Nữ đứng 2 bên của sông Ngân Hà nhớ nhau khóc thành mưa ngâu trong tháng bảy Âm lịch .

13. SẮC THÁI

Câu nào cũng có từ chỉ màu sắc hoặc trạng thái của màu sắc :

Chiều Nổi Màu Thu

Trời thu bóng ác rực màu vang ,
Trườn trượt vào lưng rặng núi vàng .
Cánh nhạn chiều tà , sương lót trắng ,
Chòm mây mưa nhạt khói mờ lam .
Lầu thu thoát nắng nâng rèm tía ,
Vườn vắng còn đây nở đóa vàng .
Nếu chẳng vươn tìm hoa sún tím ,
Thì đâu được ngắm nguyệt da cam .
( Toại Khang )

THỂ THƠ BỎ LỬNG
Mỗi câu thơ ở phần cuối dùng từ lấp lửng không trọn nghĩa để người đọc tự đoán lấy

Người đâu .... ?

Thác bức rèm châu chợt thấy mà ...
Chẳng hay người ấy có hay là ...
Nét thu gợn sóng hình như thể ...
Cung nguyệt quang mây nhác ngỡ là ....
Khuôn khổ ra chiều người ở chốn ...
Nết na xem phải thói con nhà ...
Dở dang nhắn gửi xin thời hãy ...
Tình ngắn , tình dài chút nữa ta ...

14. THỦ VĨ NGÂM

Thể thơ trong đó câu đầu và câu cuối đều giống nhau .

Khoe Lười

Anh em chớ bảo tôi lười ,
Làm việc cho hay phải thức thời .
Xuân hãy còn chơi cho phỉ chí ,
Hạ mà cất nhắc tất hoài hơi .
Thu sang cảm nguyệt còn ngâm vịnh ,
Đông lại hằm chăn tạm nghĩ ngơi .
Chờ đến xuân sang ta sẽ liệu ,
Anh em chớ bảo tôi lười .
( Tú Mỡ )

Đèn Kéo Quân

Lúng túng trong vòng mấy đứa đen ,
Nhở khi đỏ lửa mới hay hèn .
Nghênh ngang vơng giá phô đồ giấy ,
Đủng đỉnh dù che nép bóng đe\n .
Thằng trước thằng sau liền gót chạy ,
Anh trên anh dưới vểnh râu lên .
Này ai say tỉnh nhìn xem thử ,
Lúng túng trong vòng mấy đứa đen .
( Khuyết danh )

Khóc Quan Phủ Vĩnh Tường

Trăm năm quan Phủ Vĩnh Tường ơi
Tuổi chửa ba mươi cũng một đời .
Chôn chặt văn chương ba thước đất ,
Ném tung hồ thỉ bốn phương trời .
Nắm xương dưới ván chau mày khóc ,
Hòn máu trên tay mĩm miệng cười .
Hăm bảy tháng trời là mấy chốc ,
Trăm năm quan Phủ Vĩnh Tường ơi .
( Hồ Xuân Hương )

15. THỂ TRIỆT HẠ

Từ cuối của mỗi câu thơ để bỏ lững làm cho câu thơ chưa trọn nghĩa , khiến người đọc phải vận dụng suy nghĩ .

Gái Hồng Nhan

Thấy gái hồng nhan bỗng chốc mà ...
Hỏi thăm cô ấy chửa hay đa\ ...
Hình dung yểu điệu yêu như thể ...
Diện mạo phương phi ngó tưởng là ...
Ăn mặc ra tuồng người ở chốn ...
Nói năng phải lẻ giống con nhà ...
Ước gì ta được mà ta để ...
Ta để đem về để nữa ta ...
( Ngyễn Qúy Tân )


16. THỂ YẾT HẬU

Các câu trên có đủ từ cả , riêng câu dưới cùng chỉ có một từ .

Rượu Say Nhè

Sống ở nhân gian đánh chén cay ,
Trăm năm ngày tháng giữ be đầy .
Diêm vương phán hỏi " Ai đó " ?
" Say " !


Sống ở nhân gian đánh chén khè ,
Trăm năm ngày tháng giữ đầy be .
Diêm vương phán hỏi " Ai đó " ?
" Nhè " !
( Phạm Thái )

17. THỂ ÁP CÚ

Từ cuối của câu trước trở thành từ đầu của câu sau .

Sang Canh

Năm nảo năm nao cũng ước lành
Lành
, còn mong hết ? đón sang canh
Canh
trời thắc thỏm phương xin lộc
Lộc
nước lăm le khách vít cành
Cành
lá đ e ^m qua dù thiếu nụ
Nụ
đ a\o xuân hé đẹp hơn tranh
Tranh
đời mới lại màu hoa gấm
Gấm
vóc sơn hà lộng sắc xanh .
( Toại Khang )

18. CHƠI CHỮ

TRÁI TIM THỪA

Te tua tài tử trái tim thừa
Thua thiệt teo tiền tủi tóc tơ
Tư tưởng tiêu tùng từ tám tết
Tứ thư thổn thức tới trăm tờ
Tan tành tâm trạng tìm thăm thẳm
Thê thảm tình thâm tiếc thẫn thờ
Than thở thều thào theo thế thái
Trôi thời tuổi trẻ thẹn thùng thơ

TD.ST _ 17/02/2014

19. KỴ ĐỀ:

Thể thơ trong đó tất cả 8 câu đều không có từ nào chỉ đề tài
mà vẫn thể hiện đầy đủ yêu cầu của đề tài

TỨ VÔ LƯỢNG *

Mở rộng lòng thương đến mọi người
Trao dành tất cả những niềm vui
Ra tay cứu dạy ai lầm lỗi
Bỏ sức cưu mang kẻ chán đời
Hỷ xả nhân sinh càng sáng đẹp
Từ bi cuộc sống lại thêm ngời
Dương trần sẽ bớt nhiều đau khổ
Giữ vẹn tâm thiền chúng bạn ơi.

Sông Lam. 30.03.2016

* Tứ vô lượng: Từ Bi Hỷ Xả gọi tắt là Từ Bi

20. BÁT ĐIỆP:

Là thể thơ trong đó tất cả 8 câu đều có lồng vào 1 hoặc 2 từ giống nhau.

SAY - TỈNH
(“Mấy kẻ nên say đều có tỉnh
Làm người có tỉnh mới nên say”- Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Đằng đẵng cơn say chờ lúc tỉnh
Bàng hoàng khi tỉnh nốc men say
Hồn sầu lai láng say rồi tỉnh
Rượu nhắp nồng nàn tỉnh lại say
Say kẻ phụ tình chưa thức tỉnh
Dặn lòng tỉnh mộng cứ mê say
Đời bao sóng gió người say tỉnh
Giấc tỉnh mơ màng nối giấc say.

TD.ST _ 21/02/2014

21. THỂ LIÊN NGÂM

Thể thơ trong đó 2 hoặc nhiều người làm chung một bài thơ lần lượt nhau mỗi người một hoặc hai câu . Tương truyền , bài Cảnh Tây Hồ , thể Liên Ngâm là bài thơ độc nhất vô nhị trên thi đàn Việt Nam do Bà Chúa Liễu Hạnh cùng ông Phùng Khắc Khoan , một ông họ Lý và một ông họ Ngô ( cả 2 không rõ danh tính ) chơi thuyền ở Hồ Tây cùng liên ngâm . Thường người mỡ đầu bài liên ngâm thì cũng là người kết thúc bài .

Liễu : Hồ Tây riêng chiếm một bầu trời
: Bát ngát tứ mùa rộng mắt coi
Cỏi ngọc xanh xanh làng phía cạnh

Phùng : Trâu vàng biêng biếc nước vàng khơi .
Che mưa nhà lợp vài gian cỏ .

Ngô : Chèo gió ai bơi một chiếc chài .
Giậu thủng chó đùa đàn sủa tiếng .

.......................................................
.......................................................
Phùng : Đông hết thành xuân chữa thấy mai ,
Thú cảnh yên hà sang dễ đọ .

Ngô : Sóng lòng trần tục dạ đầy vơi ,
Xe săn Vị Thủy tha hồ hỏi .

: Thuyền tới Đào Nguyên mặc sức bơi ,
Chuông sớm giục thanh lòng Phật đó .

Liễu : Trăng tròn soi bóng một tiên thôi !

( Nguyên văn chữ Hán Truyện Liễu Chúa , Phan Kế bính dịch Nôm trong Việt Hán văn khảo .)

Ngoài ra còn một số thể thơ sau đây mà các sưu tầm viên chưa tìm ra được bài mẫu :

22. THỂ HẠN VẬN

Người ra đề cho vần nào ta phải dùng vần ấy . Thể thơ này khác với thể Họa vận vì không có bài xướng để dựa theo mà họa , hơn thế nữa , ta phải :

* Tả ý thơ theo đầu đề
* Dùng 5 vần hạn định ( trong 8 câu )


Thí dụ : Cuộc thi thơ do học gỉa Phan Kế Bính tổ chức như sau :

a . đầu đề là :
Trống treo ai dám đánh thùng
Bậu không , ai dám dở mùng chun vô ?




b . 5 vần hạn định : xô , cô , vô , ô , rô ...

Bài thơ sát với đầu đề , hạ đúng 5 vần hạn định , được giải nhất mà tác giả lại là một nhà sư chân tu !!! ... như sau đây :

Nào phải là ai dám giục ,
Thuận tình trước hết tự nơi .
Có cho mới dám trao dùi đánh ,
Không hẹn nào ai đẩy cửa ?
Mảng sướng kể gì thân lễ nghĩa ,
Ham vui quên hết chuyện dâm ô .
Thói hư thuần thước xưa còn lạc ,
Đừng học làm chi gióng nhảy !



23. THỂ PHÚ ĐẮC

Giải thích và phát triển ý của một câu ca dao hay một câu thơ bằng một bài thơ , nhưng nội dung phải phù hợp với sự việc đó , ta hãy xem qua bài này :

1. Già Còn Muốn Lấy Chồng

Phú đắc : Bà già đã bãy mươi tư , Ngồi trong cửa sổ gửi thư kén chồng .

Đã trót sinh ra kiếp má đào ,
Bảy mươi tư tuổi có là bao ?
Xuân xanh xấp xỉ hàng răng rụng ,
Ngày vắng ân cần mảnh giấy trao .
Chữ nhất nhi chung đành đã vậy (1) ,
Câu tam bất hiếu (2) nữa làm sao ?
May mà lấy được ông chồng trẻ ,
Họa có sinh ra được chút nào ?
( Nguyễn Khuyến )

(1) Nhất nhi chung : chỉ có một chồng cho đến trọn đời .
(2) Tam bất hiếu : do có câu " Bất hiếu hữu tam , vô hậu vi đại " , nghĩa là tội bất hiếu có 3 điều , không có con ( trai ) nối dõi là tội to nhất .

Bài thơ của tác giả vào cuối thế kỷ XVIII và đầu XIX với quan niệm Nho giáo trào phúng và có bảo thủ hẹp hòi so với phương Tây . Cụ Nguyễn Khuyến , thật sự khác với lối suy nghĩ của chúng ta ngày nay , mong các bạn đừng lấy làm thắc mắc
smilek.gif


2. ( Không rỏ tựa đề )

Phú đắc : Tối um um , trống điểm thùm, dáng lum khum , có lẻ hùm ! quán tùm hum !

Trời hôm như mực cỏ xanh um ,
Kẽm trống đâu đây bước đánh thùm .
Ven núi chẳng nề cao với thấp ,
Qua cầu đếch biết thẳng hay khum .
Đường mây , ngọn gió , đôi đàn vạc ,
Móng đá , chân sim , một đấu hùm .
Sực thức đêm khuya thương kẻ lạnh ,
Màn , chăn , đệm ấm hủm hùm hum .
( Lê lượng Thể )

24. Vĩ Tam Thanh

Là thể thơ trong đó ba từ cuối trong mỗi câu có cùng cách phát âm.

Ngẫu Hứng

Ta nghe gà gáy tẻ tè te
Bóng ác vừa lên hé hẻ hè
Cây một chồi cao von vót vót
Hoa năm sắc nở lỏe lòe loe
Chim tình bè lứa kia kìa kỉa
Ong nghĩa vua tôi nhé nhẻ nhè
Danh lợi mặc người ti tí tỉ
Ngủ trưa chửa dậy khỏe khòe khoe

(Vô Danh)

25. LƯỠNG ĐẦU XÀ NGHỊCH THIỆT:

Thể thơ có những cụm từ đôi hoặc cụm từ ba được lái thành cụm từ đôi khác ở trong câu.

Ngọa hổ tàng long

Hàn Quốc em mơ đời ngọa hổ
Đài Loan nàng tưởng chốn tàng long


Đàn xưa ai gẩy khúc đưa xàng
Xang cống hò xề xê cống xang
Ngộ hỏa Đài Loan tìm ngọa hổ
Tòng lang Hàn Quốc kiếm long tàng
Lạch sông bươn chải chưa sanh lộc
Vàng đá nát tan chuyện đá vàng
Chóng biết quê người ôm chiếc bóng
Chàng can … tủi phận … lệ chan càn…!!!

Chu Hà

26. CÔ NHẠN XUẤT QUẦN

Thể thơ trong đó mấy vần trên đi với nhau, chỉ có vần dưới làm khác hẳn đi.

LUẬN MỸ NHÂN THIÊN HẠ

Giai nhân bốn bể cũng không bằng
Lộng Ngọc, Điêu Thuyền vẫn chẳng xinh
Đắc Kỷ trông vào than xót phận
Tây Thi ngóng lại thẹn đau mình
Trời Tây Vệ Nữ nom ngùi dạ
Đất Bắc Chiêu Quân ngẫm tội tình
Mắt biếc làm ngây hồn kẻ sĩ
Thơ này gửi trọn đến Thùy Linh.

Sông Lam, 29.01.2016

27. CÔ NHẠN NHẬP QUẦN

Thể thơ trong đó vần câu đầu làm khác hẳn, không giống mấy vần dưới.

MỘNG KHÔN THÀNH.21

Tuyết lạnh ngoài kia phủ trắng đường
Cho lòng nặng nhớ..nhớ thê lương
Thời xưa Ngoại dẫn con đi học
Thưở ấy bà đưa cháu đến trường
Một chuyến đò ngang rời đất mẹ
Hai dòng lệ rớt biệt quê hương
Quỳ đây kẻ lạy...lần sau cuối
Để biết chia ly....chẳng trở về

Văn Đàn
Lăng Thiên


28 . TRƯỜNG THIÊN:

Là bài thơ dài (hơn 8 câu), nhưng trừ 2 câu đề và 2 câu kết, các cặp câu còn lại trong bài vẫn có đối như bát cú.

Xuân Ẩn Cư

Xuân chẳng thưởng đào, chẳng ngắm mai,
Ẩn cư hang núi, chốt sương cài
Cảm thương nghiệp nước, mây đùn khói
Đau xót tình người, đá sởn gai
Phước mỏng, đâu kham đời dịch họa
Thân gầy, nào chịu cảnh thiên tai?
Tiếc tâm, không đủ nhân lành tốt!?
Tủi đức, chưa dung chuyện xấu sai!?
Cửa hẹp, vắng tênh, trăng ngủ mệt
Phòng đơn, lạnh lẽo, dế rên dài
Dòng văn, ngơ ngác, trơ hoa đốm!
Câu chữ, thẹn thùng, mọt nghiến tai!
Điên đảo nhân sinh, điên đảo mãi
Ngả nghiêng thế đạo, ngả nghiêng hoài
Bi từ đức Phật, nguồn vô lượng
Nhen lửa trái tim ấm một vài.

MĐTTA. (Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

29. THỂ VẤN NGHI

Câu nào cũng theo thể hỏi , nên sau mỗi câu đều được đặt dấu hỏi cả .

Vấn Nguyệt

Trải mấy thu nay vẫn hãy còn ?
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn ?
Hỏi con Ngọc Thố đà bao tuổi ?
Chớ chị Hằng Nga đã mấy con ?
Đêm thắm cớ chi soi gác tía ?
Ngày xanh còn thẹn với vừng son ?
Năm canh lơ lững chờ ai đó ?
Hay có tình riêng với nước non ?
( Khuyết danh )

30. THUẬN NGHỊCH ĐỘC VẬN

Thể thơ khi đọc xuôi là một bài thơ , mà đọc ngược cũng là một bài thơ . Thể thơ này đòi hỏi công phu ghép từ thật khéo và phải làm theo đúng luật bằng , trắc để có thể đọc xuôi , đọc ngược đều có nghĩa , câu thơ phải chải chuốt không khổ đọc .

Cảnh Tây Hồ

( Đọc xuôi )
Đây vui thực lạ cảnh Tây Hồ !
Trước tự trời kia khéo vẽ đồ .
Mây lẫn nước xanh màu tỏ ngọc ,
Nguyệt lồng hoa thắm vẻ in châu .
Cây la tán rợp từng cao thấp ,
Sóng gợn cầm tiêu nhịp nhỏ to .
Bày khéo thú vui non nước đủ ,
Tây Hồ gía ấy đễ đâu so !
( Khuyết danh )

( Đọc ngược )
So đâu dễ ấy giá Hồ Tây ?
Đủ nước non vui thú khéo bày .
To nhỏ nhịp tiêu cầm gợn sóng ,
Thấp cao từng rợp tán lá cây .
Châu in vẻ thắm , hoa lồng nguyệt ,
Ngọc tỏ màu xanh nước lẫn mây .
Đồ vẽ khéo kia trời tự trước ,
Hồ Tây cảnh lạ thực vui đây !


Xuân Hứng

( Đọc xuôi Hán văn )
Thi đàn tế lễ lộng hoa hài ,
Khách bộ tùy sương ẩn bích đài .
Kỳ cục đã thanh phong giáp trận ,
Tửu hồ khuynh bạch tuyết hòa bôi .
Sơ liêm thấu nguyệt hương hung trúc ,
Tuyết án lăng hoa vị áp mai .
Phi phất thảo am đầu tĩnh điếm ,
U tình cố nãi thuộc quyên ai !
( Khuyết danh )

( Đọc ngược theo phiên âm chữ Nôm )
Ai quen thuộc ấy có tình ư ?
Điếm tĩnh đầu am cỏ phất phơ .
Mai ép mùi hoa lùng án tuyết ,
Trúc lồng hương nguyệt thấu rèm thưa .
Chén hòa tuyết trắng nghiên hồ rượu ,
Trận giáp phong thanh đánh cuộc cờ .
Rêu biếc in sương theo bước khách ,
Hài hoa lỏng lẻo tới đàn thơ .


31. PHÁ CÁCH

Thơ làm thất niêm có dụng ý

Đèo ba dội

Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa con đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.
(Hồ Xuân Hương)


Đèo Ba Dội hay Ba đèo tên chữ là đèo Tam Điệp, thuộc huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Không phải Đèo Ngang như có sách đã nhầm.

Chú thích : Bài thất ngôn bát cú này được làm theo thể bình , vần bằng , nhưng không theo niêm luật .

32. TUNG HOÀNH TRỤC KHOÁN:

Là bài thơ mà từ 1 cặp câu đối, viết thành 1 bài thơ có hàng các từ đầu của bài thơ là câu thứ nhất của câu đối, còn câu cuối bài thơ là vế thứ 2 của cặp đối đó.

HỌC TẬP
“Tung hoành trục khoán”
TẬP MÀI THƯ PHÁP DÂNG TRAO BẠN
HỌC CHUỐT CHỮ CÂU KÍNH HỎI NGƯỜI


TẬP tễnh chênh vênh thậm rã rời
MÀI nghiên mực cảm gọt đau lời
THƯ yên tham bác về muôn nẻo
PHÁP lạc hành trì đến mọi nơi
DÂNG kẻ sa đà thôi khốn đốn
TRAO đời thất chí bớt chơi vơi
BẠN ơi ! xin nguyện luôn cầu thị…
HỌC CHUỐT CHỮ CÂU KÍNH HỎI NGƯỜI

Lê Đăng Mành

**********************************

33. KHOÁN THỦ CHIẾT TỰ:

Là bài thơ mà từ một tên người hay tên địa danh nào đó, chẻ các chữ cái trong danh từ đó thành từ đầu tiên của các câu đầu bài thơ.

LỜI TỎ TÌNH
(Khoán thủ chiết tự)

Anh từng mê đắm với nàng thơ
Như thể người say, dáng thẫn thờ.
Háo hức tình buông nơi biển mộng
Yên bình ý thả giữa trời mơ.
Êm đềm ngày hạ bao mong đợi
U uất đêm đông bấy ngóng chờ.
Em có thấu chăng duyên đã thắm
Mỏi lòng sớm dệt những đường tơ!

Xuân Lộc

34. XA LUÂN NGŨ BỘ:

Là bài thơ dài gồm 5 bài thơ được liên kết nhau bởi 5 vận của bài đầu, 5 vận này được đảo đi đảo lại có trình tự xoay vòng như cái bánh xe luân chuyển vậy.

VÀO HÈ

1

Cây cối um tùm xanh tiếng ve
Hoa cau trước cửa trắng bông xòe
Mẫu đơn đỏ ngọn tươi roi rói
Bóng nước toòng teeng đỏ lập lòe
Bên cổng đăng tiêu đeo nụ biếc
Trước vườn xiêm thái nắng vàng hoe
Mầu tươi sắc thắm no đầy mắt
Nhìn ngắm trong lòng thấy khỏe khoe ?

2

Lá sen lá súng nở bung tòe
Cây cối um tùm xanh tiếng ve
Cu gáy gù nhau trên khóm trúc
Nồm nam thổi lại thoảng bên hè
Con tằm nhả kén tơ vàng óng
Đõ mật đầy ong đỗ nặc nè
Thiếu nữ mấy cô đi dạo phố
Áo dài tha thướt ngực tròn xoe.

3

Màu trắng đằng đông nứt một khe
Mặt trời chưa mọc mới ho he
Sao thưa nhấp nháy chân trời sáng
Cây cối um tùm xanh tiếng ve
Chim cuốc gọi bầy kêu luốc cuốc
Gà choai tập gáy cất te te
Sớm mai làng xóm lo mùa vụ
Í ới gọi nhau rộn sớm hè.

4

Con trâu cầy mệt thở phè phè
Tháo óng ông cầy thả đó nghe
Bà vợ đưa cơm mang lỉnh kỉnh
Ông cầy hút thuốc rít re re…
Mặt trời đứng đỉnh nom tròn bóng
Cây cối um tùm xanh tiếng ve
Bà xã đưa cơm về tới xóm
Vườn sau rộn rã tiếng chim chòe

5

Xuống núi mặt trời đã khuất che
Hoàng hôn dần xẫm bóng hàng tre
Khói chiều các bếp lên nghi ngút
Nhuộm nắng mây bông hóa đỏ khè
Bọn trẻ chăn trâu tìm bãi tắm
Mấy bà tát nước đắp bờ be
Nghé con nhớn nhác kêu tìm mẹ
Cây cối um tùm xanh tiếng ve.

18/09/2017
Đỗ Đình Tuân


**********************************

35. LỘC LƯ NGŨ BỘ:

Là bài thơ dài gồm 5 bài bát cú được liên kết nhau bằng 1 câu đầu của bài đầu, và nó lần lượt được chuyển sang các bài sau theo thứ tư ở vị trí 2, 4, 6, 8.

Ví dụ:

TIẾNG LÒNG

“Lộc lư ngũ bộ”

Xin trồng điềm tĩnh giữa buồn đau
Dẫu bệnh làm cho dạ héo sầu
Nhân lỡ đem gieo từ thuở trước
Quả đành phải hái đến mai sau
Chẳng chờ trí mở kho huyền diệu
Không đợi tuệ khai ngõ nhiệm mầu
Thanh thản an vui cùng thực tại
Ngộ ra sanh diệt một ga tàu

Thấy rõ vô thường vẽ bể dâu
Xin trồng điềm tĩnh giữa buồn đau
Hãy xem hội ngộ như tia chớp
Mà nhận tương phùng tợ bóng câu
Biết chắc khốn cùng hay ở lại
Nên cầm an lạc chớ qua mau
Tang thương cũng diễn trò sân khấu
Giọt lệ khóc cười cứ đổi trao

Mong gì hợp phố lội tìm châu
Đã cách xa rồi níu được đâu
Hãy thắp yên vui bên khốn quẫn
Xin trồng điềm tĩnh giữa buồn đau
Thương hồi tiễn bạn lên biên giới
Nhớ lúc đưa tôi đến địa đầu
Vướng phải tai ương rời chiến hữu
Thân tàn vất vưởng buổi xa nhau

Vẫn giữ trong tim khó nhạt màu
Phiêu bồng trơ trọi với ngàn lau
Phong tư bỏ lại càng thương cảm
Tráng khí xa rồi cứ khát khao
Đã cấy an nhiên bờ khổ ải
Xin trồng điềm tĩnh giữa buồn đau
Thong dong ngồi tát đìa cô tịch
Nhặt phiến phù vân rụng dưới cầu

Thôi thì an phận bỏ lao xao
Nhàn nhã thung thăng dưới cội đào
Lỏng khỏng chờ đêm về lượm nguyệt
Bơ thờ đợi tối đến khều sao
Nuôi thần đạm bạc ngừng mơ tưởng
Dưỡng khí thanh bần chớ ước ao
Thành bại ,có không thôi khắc khoải
Xin trồng điềm tĩnh giữa buồn đau

BVTW Huế - Hè 2016
Những ngày nằm viện
Như Thị


**********************************

36. BÁT CÚ PHÂN MINH:

Là bài thơ bát cú mà 8 câu, mỗi câu đều có phụ âm (nguyên âm) đầu giống nhau. Chú ý ở thể này, các chữ T-TR-TH, hoặc C-CH,... phân biệt nhau.

Ví dụ:

BỆNH TƯƠNG TƯ
(Bát cú phân minh, độc nữu)

Tại tình tồi tệ tựa tàn tơ
Tán tỉnh tương tư tám tỉ tờ
Thổn thức thuê thùa than thấy thánh
Thầm thì thệ thốt thở thành thơ.
Trong trời trắc trở trăm trần trụi
Trên trán tràn trề triệu trống trơ
Tức tưởi tim tôi tiều tụy tái
Thì thôi thủng thẳng thử theo thờ.

Sông Lam, 25.11.2015

**********************************

37. NGŨ ĐỘ THANH:

Là bài thơ phải là chính luật, trong mỗi câu phải có đủ 5 thanh dấu, các thanh trắc phải khác nhau và các thanh bằng giống nhau phải đặt ở vị trí không gần nhau. Các vận cuối cũng thanh dấu cũng khác nhau.

MỘNG KHÔN THÀNH.4

Chỉ viết lời thơ trĩu nặng buồn
Duyên này cách biệt kẻ đành buông
Hồn theo buổi cũ về sương lạnh
Mắt dõi ngày xưa gọi biển cuồng
Lại muốn dòng châu đừng chảy nữa
Xin cầu suối lệ hãy dừng tuôn
Tình yêu chỉ một trao nàng hết
Đã thấm trần gian một vở tuồng

Văn Đàn
Lăng Thiên


38. THƠ VẦN TRẮC

Trong thơ vần trắc cũng có 2 loại: luật trắc vần trắc và luật bằng vần trắc

MỪNG TUỔI BẢY MƯƠI
(Mừng thọ bác Kha 70 xuân)

Con giáp xoay vòng giờ đến Sửu
Thất tuần đáo tuế mừng thi hữu
Đêm xuân ngâm ngợi Hán Đường thư
Ngày hạ khề khà Mai Quế tửu
Cảm hứng chứa chan ông đón tân
Ý tình dào dạt bà đưa cựu
Tương giao sơ ngộ họa đôi dòng
Chúc bác Ngọc Kha thọ bách cửu

La Thụy
(Tháng 7/ Kỷ Sửu )


**********************************

39. THỦ VĨ THOÁI HOÀN XA LUÂN:

Là thể thơ mà trong mỗi câu, từ đầu câu và từ cuối câu giống nhau, và câu cuối lại lặp lại câu 1 như thủ vĩ ngâm.

Ví dụ:

OAN

Oang cả làng face tiếng chửi oang
Oan mà bọn nó bảo không oan!
Ọa ui phía đó ran lời ọa
À úi đàng kia rộn tiếng à!
Á hự ai người vang ngữ á
Oa hừ mấy kẻ vọng từ oa?
Oán mà chẳng thể than rằng oán
Oang cả làng face tiếng chửi oang!

5.4.15-------------Phong Trần

**********************************

40. VẤN – ĐÁP:

Là bài thơ mà có 2 nhân vật, một người hỏi và 1 người trả lời.

Ví dụ:

TRỜI HỎI - TÁO TRÌNH

Ngọc Đế:

Gọi Táo vào đi trẫm hỏi này
Dương trần chuyện cũ tấu trình ngay
Năm rồi thắng lợi sao thì bẩm
Tháng đã tồn hư đặng tỏ bày!

Táo trình:

Thiên Hoàng đã gọi Táo trình ngay
Chuyện cũ vừa qua khổ chất đầy
Vận nước Tàu Trung còn để bẫy
Lòng dân Cẩu Tặc vẫn chia bầy
Ngày vui vỏn vẹn như chừng ấy
Buổi nhọc dồi dư ngỡ thế này
Ngẫm thật tình kia mà phải xót
Trên trời Ngọc Đế cũng nào hay ?

Ngọc Đế:

Lão Táo khanh đà hỏi đặng hay
Ta mời bậu tỏ những lời ngay
Xin đừng úp mở đau lòng trẫm
Cụ thể như nào nói rõ đây !

Táo thưa:

Kính bẩm trời cao trọn nỗi này
Năm rồi xã hội lắm phiền thay
Ngoài khơi lũ Khựa luôn dòm ngó
Giữa nước dân mình lại trả vay
Tế sự lừa nhau còn bỏ ngõ (1)
Môi trường nhiễm bẩn lại tàn cây (2)
Nên là nóng, lạnh rồi mưa bão (3)
Chỉ mệt anh nghèo mãi trắng tay.
Chỉ mệt anh nghèo mãi trắng tay
Ngài gieo giá lạnh khổ thân gầy
Gian tà thịt bẩn tuồn như bão
Ác quỷ hoa Tàu vãi tựa mây (4)
Nước ngọt ruồi bâu vùi kẻ lẫn (5)
Duyên tình chó gặm bủa thằng ngây (6)
Còn bao chuyện nữa trình sao hết
Kính bẩm trời cao trọn nỗi này !

Ngọc Đế:

Bao điều Táo ngỏ trẫm đà hay
Đón Khỉ chào Dê chạnh nỗi này
Chuyện cũ qua rồi xin dứt bỏ
Mong rằng buổi mới vạn niềm may !

Sông Lam, 01.02.2016 (23 tháng Chạp, Ất Mùi)
Chú thích:
(1) Kinh tế dậm chân
(2) Chặt phá cây
(3) Năm rồi là năm nóng nhất trong nhiều năm, nhưng cũng có đợt rét kỷ lục vừa qua
(4) Hoa quả Trung Quốc
(5) Chai nước Number One có ruồi dẫn đến người bị 7 năm bóc lịch
(6) Vì chuyện tình yêu không thành dẫn đến vụ chém chết 6 mạng người ở Bình Phước.

**********************************

41. NGŨ NGÔN BÁT CÚ

Thể này cũng giống như Thất ngôn bát cú, nhưng thay vì mỗi câu có 7 chữ mà giảm còn 5 chữ. Với 1 bài Thất ngôn bát cú chính thể, ta chỉ cần bớt 2 chữ đầu của mỗi câu là thành 1 bài Ngũ ngôn. Ngoài thể này ra còn có ngũ ngôn tứ tuyệt, bát ngôn tứ tuyệt.

TIẾT ĐÔNG

Sáng nay bão tuyết nhiều
Gió lạnh buốt đìu hiu
Nhắp chút càphê nóng
Khói cay điếu thuốc thiêu
Nhìn hoa lan ướt lạnh
Hát nhạc khúc tình yêu
Thoa dịu bàn tay ấm
Tiết đông đẹp mỹ miều.

Hoàng Huy 01/2012

42. LÁY THƠ

Thể thơ mà trong đó hoặc ở đầu câu , ở giữa câu hay ở cuối câu đều có các từ láy . Láy có 3 loại :

a /. Láy từ : Từ dùng trước được láy lại toàn bộ ở từ sau : ngời ngời , xinh xinh , ngà ngà , ngoan ngoan ...

b /. Láy âm : Bộ phận phụ âm đầu của từ trước được láy lại ở bộ phận phụ âm của từ sau : khó khăn , đỡ đần ...

c /. Láy vần : Bộ phận vần của từ trước được láy lại ở bộ phận vần của từ sau : bồn chồn , lẩm cẩm , cheo leo , riu ríu , lôi thôi ...

Và được phân bố trong 3 thể :

1/. Láy đôi :

Quan Khánh

Đứng tréo trông theo cảnh hắt heo
Đường đi thiên thẹo , quán cheo leo .
Lợp lều quán cỏ tranh xơ xác ,
Xỏ kẽ kèo tre đót khẳng khiu .
Ba chạc cạy xanh hình uốn éo ,
Một dòng nước biết cảnh leo teo .
Thú vui quên cả niềm lo lắng ,
Kìa cái diều kia nó lộn lèo .
( Hồ Xuân Hương )

2/. Láy ba ( hay còn gọi là Vỹ Tam Thanh ) : sạch sành sanh , sát sàn sạt , ti tí tị ...

Ngẫu Hứng

Tiếng gà bên gối tẻ tè te ,
Bóng ác trông lên hé hẻ hè .
Cây một chồi cao von vót vót ,
Hoa năm sắc nở lóe lòe loe .
Chim tình bè lứa kia kìa kịa ,
Ong , nhĩa vui tôi nhé nhẽ nhè .
Danh lợi mặc người ti tí tị ,
Ngủ trưa chửa dậykhoẻ khoè khoe .
( Vô danh )


3/. Láy tư : ( Song điệp : xem thể Song điệp ) Trùng trùng điệp điệp , lúng ta lúng túng , hớt hơ hớt hải , áo áo quần quần ...

Hạ Long Tức cảnh

Trùng trùng điệp điệp núi chon von ,
Ảo ảo mơ mơ thế trận hồn .
Lớp lớp hàng hàng hòn Bái Tử ,
Non non nước nước một lòng son .
( Tùng Linh )

43. ĐẢO TỪ :

Là thể thơ có những cụm từ đôi được lái thành cụm từ đôi khác ( hoặc cụm từ ba, nhưng rất ít ) , như trong câu : " Con cá đối nằm trong cối đá " . hoặc trong cảnh Trạng Quỳnh ngồi bờ ao chơi đá bèo làm cho bà chúa thơ Nôm phải đỏ mặt .

Muốn Quy Thuyền

Cầu đạo cần chi phải cạo đầu
Dầu lai
dưa muối cũng dài lâu
Na bường
bước tới nương bà vãi
Dầu sãi không tu cũng giải sầu
( Thảo Am )

Nhắn Bạn

Nhắc bạn những thương tình nhạn bắc
Trông đời
chỉ thấy cảnh trời đông
Đêm thâu
tiếng dế đâu thêm mãi
Cười ngã nghiên cho mệt cả người
( Thảo Am )


Trên đây là một số thể loại thơ Đường luật, ngoài ra còn rất nhiều biến thể nữa. Mong các thi hữu chia sẻ để cùng nhau tiến bộ!

P/S:
Đây là trang web hỗ trợ làm thơ Đường Luật online, xin chia sẻ cùng các thi hữu

http://www.vinapoet.com/home.html
Đọc lướt qua mà muội muốn ngất rồi!
 
T
Chỗ xuất quần và nhập quần như có gì đó sai sai ở phần minh họa.
 
N
Thất ngôn bát cú SONG SÁT KIM THIỀN THI là một loại thơ do Ngọc Kim Thiền phát minh và sáng tạo ra

HẸN ƯỚC
(Bán nguyên thanh)
Tác giả Ngọc Kim Thiền

Anh về nói mẹ với thưa cha
VÀ lễ trầu cau lại bên NHÀ
Ngày lành THÁNG tốt SANG hỏi cưới
Bà nguyệt ông tơ rước em qua
Hạnh phúc NGÀN thu tình viên MÃN
Buồn vui vạn HẠ kiếp đôi TA
Keo sơn gắn bó nguyền chung thủy
Đầu bạc răng long mãi không xa.

KIM THIỀN BỒ TÁT
(Bát vĩ nguyên thanh)
Tác giả Ngọc Kim Thiền

Kim THIỀN Bồ Tát ở tây THIÊN
Pháp thuật vô BIÊN trãi khắp MIỀN
Hô PHONG hoán vũ TRONG trời đất
ĐỘN thổ đằng vân CHỐN cõi tiên
HỈ xả từ BI ngàn bác ái
Cốt TIÊN mệnh phật vạn chân THIỀN
Yêu THƯƠNG độ LƯỢNG vô bờ bến
HIỂN thánh anh linh cứu dân HIỀN.

SẦU TRONG TIM
(Thập lục vĩ nguyên thanh)
Tác giả Ngọc Kim Thiền

Lệ có rơi ĐÂU vẫn cứ SẦU
Cuộc đời DÂU bể lắm mưa NGÂU
Canh THÂU vẫn mõi mòn yêu DẤU
Tình ĐẦU chưa thể bớt giọt CHÂU
Áo rách kim KHÂU đời cá CHẬU
Vai sờn chỉ BẬU mệnh kim LÂU
Mong phép nhiệm MẦU từ thánh MẪU
Vơi bớt lệ SẦU những đêm THÂU.


NGUYÊN TẮC VÀ GIẢI THÍCH TỪ NGỮ

I. NGUYÊN TẮC.
Thơ SONG SÁT là loại thơ nói về nguyên âm, âm tiết.
Loại thơ này khi làm tuyệt đối không được để 2 nguyên âm vần mang vận Song Sát liền kề nhau. Và thống nhất có 3 bộ kì thi. Áp dụng cho cả thất ngôn tứ tuyệt.
Hai nguyên âm vần mang vận Song sát muốn để ở bất kì chỗ nào trên cùng một câu cũng được. Tuyệt đối không để liền kề.
BÁN NGUYÊN THANH chỉ cần chọn ra 4 câu bất kì. Trong đó 2 câu mang vận Song sát, cùng một nguyên âm. Hai câu còn lại cũng mang vận Song sát nhưng không cùng nguyên âm.
BÁT VĨ NGUYÊN THANH là chọn ra 4 câu bất kì mang vận Song sát. 4 câu còn lại cũng mang vận Song sát nhưng không cùng nguyên âm, hoặc cùng nguyên âm nhưng không vượt quá 4 nguyên âm, nhưng không được giống với nguyên âm của 4 câu đã chọn.
THẬP LỤC VĨ NGUYÊN THANH là tất cả 8 câu cùng mang 1 vận Song sát như nhau.

II. GIẢI THÍCH TỪ NGỮ.

SONG SÁT KIM THIỀN THI nghĩa là loại thơ Song Sát do Ngọc Kim Thiền phát minh, sáng tạo ra.

SONG SÁT được hiểu như sau: Song nghĩa đen là 2, nghĩa bóng là song hành, song song. Sát nghĩa đen là tuyệt sát, hư hại, giết chóc. Nghĩa bóng là bên cạnh, gần nhau.
Giải thích theo hình học thì kiểu như thế này: Hai đường thẳng song song trên cùng một mặt phẳng, sẽ không bao giờ gặp nhau.
(Đó chính là nguyên nhân, lí do vì sao không được để liền kề nhau. Vì khi ta đi thơ bị bí chữ ta sẽ dùng đến từ láy đồng âm, đồng vị... như là LỒNG LỘNG, KHE KHẼ...XA XA, XANH XANH...)

1. BÁN NGUYÊN THANH nghĩa là chỉ lấy một nửa nguyên âm.
2. BÁT VĨ NGUYÊN THANH nghĩa là tám vần một âm.
3. THẬP LỤC VĨ NGUYÊN THANH nghĩa là mười sáu vần một âm.

Kim Thiền Thi là danh từ chung để gọi tên các loại thơ do Ngọc Kim Thiền phát minh ra.
Tên riêng của các loại thơ Kim Thiền Thi bao gồm.
1. Song sát
2. Phong vân
3. Nhất tự phân tranh
4. Nhị tự phân tranh (tên khác là Song long)
5. Tam tự phân tranh.

. Trước đây các bậc tiền bối phát minh và sáng tạo ra những loại thơ như: Bát vĩ đồng âm. Thủ vĩ ngâm. Song ngư. Đường luật. Song thanh. Hán luật. Song điệp....Họ không để tên, nên không biết là ai sáng chế ra.
Cho nên Kim Thiền ghi là SONG SÁT KIM THIỀN THI để biết thêm về loại thơ do Ngọc Kim Thiền phát minh và sáng tạo ra.

Tác giả, nhà phát minh, sáng tạo Ngọc Kim Thiền
 
Thất ngôn bát cú SONG SÁT KIM THIỀN THI là một loại thơ do Ngọc Kim Thiền phát minh và sáng tạo ra

HẸN ƯỚC
(Bán nguyên thanh)
Tác giả Ngọc Kim Thiền

Anh về nói mẹ với thưa cha
VÀ lễ trầu cau lại bên NHÀ
Ngày lành THÁNG tốt SANG hỏi cưới
Bà nguyệt ông tơ rước em qua
Hạnh phúc NGÀN thu tình viên MÃN
Buồn vui vạn HẠ kiếp đôi TA
Keo sơn gắn bó nguyền chung thủy
Đầu bạc răng long mãi không xa.

KIM THIỀN BỒ TÁT
(Bát vĩ nguyên thanh)
Tác giả Ngọc Kim Thiền

Kim THIỀN Bồ Tát ở tây THIÊN
Pháp thuật vô BIÊN trãi khắp MIỀN
Hô PHONG hoán vũ TRONG trời đất
ĐỘN thổ đằng vân CHỐN cõi tiên
HỈ xả từ BI ngàn bác ái
Cốt TIÊN mệnh phật vạn chân THIỀN
Yêu THƯƠNG độ LƯỢNG vô bờ bến
HIỂN thánh anh linh cứu dân HIỀN.

SẦU TRONG TIM
(Thập lục vĩ nguyên thanh)
Tác giả Ngọc Kim Thiền

Lệ có rơi ĐÂU vẫn cứ SẦU
Cuộc đời DÂU bể lắm mưa NGÂU
Canh THÂU vẫn mõi mòn yêu DẤU
Tình ĐẦU chưa thể bớt giọt CHÂU
Áo rách kim KHÂU đời cá CHẬU
Vai sờn chỉ BẬU mệnh kim LÂU
Mong phép nhiệm MẦU từ thánh MẪU
Vơi bớt lệ SẦU những đêm THÂU.


NGUYÊN TẮC VÀ GIẢI THÍCH TỪ NGỮ

I. NGUYÊN TẮC.
Thơ SONG SÁT là loại thơ nói về nguyên âm, âm tiết.
Loại thơ này khi làm tuyệt đối không được để 2 nguyên âm vần mang vận Song Sát liền kề nhau. Và thống nhất có 3 bộ kì thi. Áp dụng cho cả thất ngôn tứ tuyệt.
Hai nguyên âm vần mang vận Song sát muốn để ở bất kì chỗ nào trên cùng một câu cũng được. Tuyệt đối không để liền kề.
BÁN NGUYÊN THANH chỉ cần chọn ra 4 câu bất kì. Trong đó 2 câu mang vận Song sát, cùng một nguyên âm. Hai câu còn lại cũng mang vận Song sát nhưng không cùng nguyên âm.
BÁT VĨ NGUYÊN THANH là chọn ra 4 câu bất kì mang vận Song sát. 4 câu còn lại cũng mang vận Song sát nhưng không cùng nguyên âm, hoặc cùng nguyên âm nhưng không vượt quá 4 nguyên âm, nhưng không được giống với nguyên âm của 4 câu đã chọn.
THẬP LỤC VĨ NGUYÊN THANH là tất cả 8 câu cùng mang 1 vận Song sát như nhau.

II. GIẢI THÍCH TỪ NGỮ.

SONG SÁT KIM THIỀN THI nghĩa là loại thơ Song Sát do Ngọc Kim Thiền phát minh, sáng tạo ra.

SONG SÁT được hiểu như sau: Song nghĩa đen là 2, nghĩa bóng là song hành, song song. Sát nghĩa đen là tuyệt sát, hư hại, giết chóc. Nghĩa bóng là bên cạnh, gần nhau.
Giải thích theo hình học thì kiểu như thế này: Hai đường thẳng song song trên cùng một mặt phẳng, sẽ không bao giờ gặp nhau.
(Đó chính là nguyên nhân, lí do vì sao không được để liền kề nhau. Vì khi ta đi thơ bị bí chữ ta sẽ dùng đến từ láy đồng âm, đồng vị... như là LỒNG LỘNG, KHE KHẼ...XA XA, XANH XANH...)

1. BÁN NGUYÊN THANH nghĩa là chỉ lấy một nửa nguyên âm.
2. BÁT VĨ NGUYÊN THANH nghĩa là tám vần một âm.
3. THẬP LỤC VĨ NGUYÊN THANH nghĩa là mười sáu vần một âm.

Kim Thiền Thi là danh từ chung để gọi tên các loại thơ do Ngọc Kim Thiền phát minh ra.
Tên riêng của các loại thơ Kim Thiền Thi bao gồm.
1. Song sát
2. Phong vân
3. Nhất tự phân tranh
4. Nhị tự phân tranh (tên khác là Song long)
5. Tam tự phân tranh.

. Trước đây các bậc tiền bối phát minh và sáng tạo ra những loại thơ như: Bát vĩ đồng âm. Thủ vĩ ngâm. Song ngư. Đường luật. Song thanh. Hán luật. Song điệp....Họ không để tên, nên không biết là ai sáng chế ra.
Cho nên Kim Thiền ghi là SONG SÁT KIM THIỀN THI để biết thêm về loại thơ do Ngọc Kim Thiền phát minh và sáng tạo ra.

Tác giả, nhà phát minh, sáng tạo Ngọc Kim Thiền
Đóng góp của bạn, bản thân mình rất tôn trọng và cổ vũ. Nhưng khi chơi thơ Đường Luật thì chú ý luật rồi hả sáng tác. Thân!
 
Tôi kg biết thơ này có dính dáng gì đến thơ Đường luật kg? nhưng nhìn vào thì kg đúng bảng luật của thơ Đường luật
 
Bạn đọc kỹ tiêu đề bài viết nè: TỔNG HỢP CÁC THỂ LOẠI THƠ ĐƯỜNG LUẬT . Đây là những thể loại khác của thơ Đường Luật. Thân!
 
Top Bottom